II Sam
Chapter 6
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đa-vít lại nhóm hiệp hết thảy những người kén chọn của Y-sơ-ra-ên, số chừng ba vạn người.
1David mah qoih ih Israel kami sang quithumtonawk loe ahmuen maeto ah amkhuengsak.
2Đoạn, người chỗi dậy, có cả dân sự đồng theo, đi từ Ba-lê ở xứ Giu-đa đặng thỉnh hòm của Đức Chúa Trời lên; trước hòm ấy dân cầu khẩn danh Chúa, tức là chính danh Đức Giê-hô-va vạn quân, vẫn ngự ở giữa chê-ru-bin tại trên hòm ấy.
2Cherubim salakah kaom, misatuh kaminawk ih Angraeng ahmin hoiah kawk ih, Angraeng ih thingkhong to Judah prae Baale vangpui hoiah aput hanah, David loe angthawk moe, angmah khaeah kaom kaminawk hoi nawnto a caeh.
3Chúng để hòm của Đức Chúa Trời trên một cái xe mới, rồi đem đi khỏi nhà A-bi-na-đáp, ở tại trên gò nỗng; U-xa và A-hi-giô, con trai A-bi-na-đáp, dẫn cái xe mới đó.
3Sithaw ih thingkhong to maitaw leeng kangtha nuiah suek o moe, Gibeah, tiah kawk ih mae nuiah kaom Abinadab ih im hoiah aput o; Abinadab capa Uzzah hoi Ahio mah, maitaw leeng to mongh hoi.
4Vậy, chúng dời hòm khỏi nhà A-bi-na-đáp ở tại trên gò nỗng: U-xa đi gần bên hòm của Đức Chúa Trời, còn A-hi-giô đi trước hòm.
4Sithaw ih thingkhong to mae nui ih Abinadab im hoiah a phawh o; to naah Ahio loe Sithaw ih thingkhong hmaa ah caeh.
5Đa-vít và cả nhà Y-sơ-ra-ên đều múa hát trước mặt Đức Giê-hô-va với đủ thứ nhạc khí bằng gỗ bá hương, đàn cầm, đàn sắt, trống, bạt, và mã la.
5To naah David hoi Israel imthung takohnawk boih mah hmaica thing hoiah sak ih katoeng congca, satuem, monglaeng, cingcengnawk hoiah Angraeng hmaa ah laasak o.
6Khi đến sân đạp lúc của Na-côn, U-xa giơ tay lên nắm hòm của Đức Chúa Trời, bởi vì những con bò vấp ngã.
6Nakon ih cang atithaih ahmuen phak o naah loe, maitaw mah Sithaw ih thingkhong to ahoek pongah, Uzzah mah ban payangh moe, Sithaw thingkhong to sui.
7Cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va bèn nổi phừng cùng U-xa; Đức Chúa Trời hành hại người vì cớ lầm lỗi người, và người chết tại đó, gần bên hòm của Đức Chúa Trời.
7Angraeng loe Uzzah nuiah paroeai palungphui; a sakpazaehaih pongah Sithaw mah anih to hum, anih loe Sithaw ih thingkhong taengah duek sut.
8Đa-vít lấy làm buồn thảm, vì Đức Giê-hô-va đã hành hại U-xa, và người ta gọi chỗ ấy là Hành hại U-xa cho đến ngày nay.
8Sithaw mah Uzzah to danpaek pongah, David loe poeknawm ai; to pongah vaihni khoek to to ahmuen to Perez-Uzzah, tiah kawk o.
9Trong ngày đó, Đa-vít sợ Đức Giê-hô-va và nói rằng: Hòm của Đức Giê-hô-va sẽ thế nào vào nhà ta được?
9David loe to na niah Angraeng to zit pongah, Angraeng ih thingkhong to kawbangmaw kaimah khaeah ka sin thai han? tiah a thuih.
10Vậy Đa-vít không muốn để hòm của Đức Giê-hô-va đến nhà mình tại trong thành Đa-vít; bèn biểu dẫn vào trong nhà Ô-bết-Ê-đôm, là người Gát.
10David loe angmah ih David vangpui thungah Angraeng ih thingkhong to phaw ai; Gath kami Obed-Edom im ah caeh haih ving.
11Như vậy, hòm của Đức Giê-hô-va ở ba tháng trong nhà Ô-bết-Ê-đôm, người Gát; Đức Giê-hô-va ban phước cho Ô-bết-Ê-đôm và cả nhà người.
11Angraeng ih thingkhong loe Obed-Edom im ah khrah thumto thung oh; to naah Angraeng mah Obed-Edom hoi anih ih imthung takoh kaminawk boih to tahamhoihaih paek.
12Người ta đến nói cùng vua Đa-vít rằng: Đức Giê-hô-va đã ban phước cho nhà Ô-bết-Ê-đôm và mọi vật thuộc về người, vì cớ hòm của Đức Chúa Trời. Đa-vít bèn đi thỉnh hòm của Đức Chúa Trời ở nhà Ô-bết-Ê-đôm đến trong thành Đa-vít cách rất vui mừng.
12Sithaw ih thingkhong pongah, Obed-Edom hoi a imthung takohnawk boih Angraeng mah tahamhoihaih paek ti, tiah David siangpahrang khaeah thuih pae o. To pongah David loe caeh tathuk moe, Sithaw thingkhong to Obed-Edom im hoiah David vangpui thungah anghoehaih hoiah phawh let.
13Khi những người khiêng hòm của Đức Chúa Trời đã đi sáu bước, thì Đa-vít tế một con bò đực và một con thú mập béo.
13Angraeng ih thingkhong kapu kaminawk mah khok tangkan tarukto takan o pacoengah, maitaw tae maeto hoi kathawk maitaw caanawk to angbawnhaih ah a sak.
14Đa-vít mặc áo ê-phót vải gai, nhảy múa hết sức tại trước mặt Đức Giê-hô-va.
14David loe rong kangpha puu kahni to angkhuk pacoengah, Angraeng hmaa ah tha pathoh moe, hnawh.
15Aáy Đa-vít và cả nhà Y-sơ-ra-ên lấy tiếng vui mừng và tiếng kèn thổi mà thỉnh hòm của Đức Giê-hô-va lên là như vậy.
15To naah David hoi Israel imthung takohnawk loe, Angraeng ih thingkhong to hanghaih hoi mongkah lok hoiah aput o tahang.
16Nhưng khi hòm của Đức Giê-hô-va vào thành Đa-vít, thì Mi-canh, con gái của Sau-lơ, dòm ngang qua cửa sổ, thấy Đa-vít múa nhảy trước mặt Đức Giê-hô-va, thì trong lòng khinh bỉ người.
16Angraeng ih thingkhong David vangpui thungah akun naah, Saul canu Mikal mah tapang khaw thung hoiah a bih; Angraeng hmaa ah angphet hoi kahnawh David siangpahrang to a hnuk naah, anih mah Daivid to palung thung hoiah khet patoek.
17Vậy, chúng đem hòm của Đức Giê-hô-va vào, đặt tại chỗ, giữa trại Đa-vít đã dựng cho hòm đó; rồi Đa-vít dâng của lễ thiêu và của lễ thù ân tại trước mặt Đức Giê-hô-va.
17Angraeng ih thingkhong to phawh o moe, David mah to thingkhong suek hanah sakcoek ih kahni imthung ah a suek o; to naah David mah hmai angbawnhaih hoi angdaeh angbawnhaih to Angraeng hmaa ah sak.
18Khi Đa-vít đã dâng của lễ thiêu và các của lễ thù ân, thì người nhơn danh Đức Giê-hô-va vạn quân mà chúc phước cho dân sự;
18David mah hmai angbawnhaih hoi angdaeh angbawnhaih paek pacoengah, misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw hmin hoiah kaminawk to tahamhoihaih paek.
19người phát cho hết thảy dân chúng Y-sơ-ra-ên, bất luận nam hay nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một bánh nho. Đoạn, hết thảy ai về nhà nấy.
19To pacoengah nongpa nongpata tih ai, Israel kaminawk boih hanah, takaw kae maeto, moi tetta hoi misurthaih kazaek to paek. To pacoengah kaminawk loe angmacae im ah amlaem o.
20Đa-vít cũng trở về đặng chúc phước cho nhà mình; nhưng Mi-canh, con gái của Sau-lơ, đến đón người, mà nói rằng: Hôm nay vua Y-sơ-ra-ên được vinh hiển thay, mà ở trần trước mặt các con đòi của tôi tớ vua, làm như một kẻ không ra gì vậy!
20Angmah ih imthung takoh tahamhoihaih paek hanah, David loe im ah amlaem. Saul canu Mikal loe David khet hanah angzoh moe, anih khaeah, Vaihniah Israel siangpahrang loe kawkrukmaw lensawk; tidoeh na ai kami rumram mah azathaih tawn ai ah a khukbuen to angkhring baktih toengah, a tamna nongpatanawk hmaa ah anih doeh khukbuen angkhring toeng, tiah a naa.
21Đa-vít đáp với Mi-canh rằng: Aáy tại trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đấng đã chọn lấy ta làm hơn cha nàng và cả nhà người, lập ta làm vua chúa Y-sơ-ra-ên, là dân của Đức Giê-hô-va; phải, trước mặt Đức Giê-hô-va, ta có hát múa.
21David mah Mikal khaeah, Nam pa hoi anih ih imthung takohnawk boih hmaa ah Angraeng mah ang qoih, anih mah ni kai hae Angraeng ih Israel kaminawk ukkung ah ohsak. To pongah Angraeng hmaa ah ka kawnh.
22Ta sẽ hạ mình xuống nhiều hơn nữa, tự xem mình là hèn mạt; dầu vậy, những con đòi nàng nói đó lại sẽ tôn kính ta.
22Hae hmuen pongah azat ai ah ka oh moe, poek pahnaemhaih hoiah ka oh han; na thuih ih tamna nongpatanawk mah kai na pakoeh o aep tih, tiah a naa.
23Vì vậy, Mi-canh, con gái Sau-lơ, không sanh con cho đến ngày nàng thác.
23To pongah Saul canu Mikal loe, duek khoek to caa sah ai ah oh.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.