II Sam 23
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Nầy là lời sau hết của Đa-vít. Nầy là lời của Đa-vít, con trai Y-sai, Tức lời của người đã được nâng lên cao thay, Đấng chịu xức dầu của Đức Chúa Trời Gia-cốp, Và làm kẻ hát êm dịu của Y-sơ-ra-ên.
1Hae loe David ih hnukkhuem koek lok ah oh; Jesse capa David mah, ranui koek ah kaom, Jakob ih Sithaw mah situi bawh ih, lok kamding Israel kaminawk ih laa sahkung mah,
2Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, Và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta.
2Angraeng ih Muithla mah kai khaeah lokthuih pongah, anih ih lok to ka palai ah oh.
3Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã phán, Hòn Đá lớn của Y-sơ-ra-ên đã phán cùng ta rằng: Người nào cai trị loài người cách công bình, Cách kính sợ Đức Chúa Trời,
3Israel ih Sithaw mah lok to thuih; Israel ih lungsong mah kai khaeah, Kaminawk ukkung loe toenghaih hoiah uk moe, Sithaw zithaih hoiah uk han oh.
4Thì sẽ giống như sự chói lòa buổi sáng, khi mặt trời mọc, Khác nào một buổi sớm mai chẳng có mây; Các ánh sáng nó làm cho cây cỏ bởi đất nảy ra sau khi mưa.
4Tamai tabok ai, akhawn bang ni aengh baktih toengah, kho angzoh pacoeng ni tacawt naah, long thung hoiah tacawt qam kanawk baktiah oh han oh.
5Nhà ta dầu chẳng phải như vậy trước mặt Đức Chúa Trời, Song Ngài đã lập với ta một giao ước đời đời, Vững bền trong mọi sự và chắc chắn. Vì đó là cả sự cứu rỗi và cả sự ước ao ta, Dẫu Ngài không làm cho điều đó nẩy nở ra.
5Ka imthung takoh kaminawk loe Sithaw hoi nawnto om poe ai cadoeh, anih loe amro thai ai, dungzan kacak lokkamhaih to kai hoiah sak boeh; to lokkamhaih loe akoep ai cadoeh, kai pahlongkung hoi ka koehhaih ah oh.
6Trái lại, hết thảy kẻ hung ác đều giống như gai chông mà người ta liệng ra xa, Không thể lấy bằng tay được;
6Toe kasae kaminawk loe, ban hoi sui han hoih ai, vah sut ih soekhring baktiah oh o.
7Người ta phải dùng đồ bằng sắt hay là cán cây lao đặng nắm nó. Rồi chính tại chỗ, nó bị thiêu trong lửa.
7To baktih soekhring va kami loe, sum hoi sak ih khukbuen hoi kanoe tayae to patoh moe, a ohhaih ahmuen ih long ah hmai hoiah thlaek han oh, tiah a thuih.
8Nầy là tên các người mạnh bạo đã giúp việc cho Đa-vít: Giô-sép-Ba-sê-bết, người Tách-kê-môn, làm đầu lính thị vệ của vua. Aáy là người quơ giáo mình cự lại tám trăm người, và giết đi trong một lúc gặp.
8Hae loe thacak David ih kami ah oh o; Takmon acaeng, Josheb-Basshebeth loe kami thumto zaehoikung ah oh; anih loe tayae to sin moe, vaito ah kami cungvai tazetto hum.
9Sau người ấy, có Ê-lê-a-sa, con trai Đô-đô, cháu của A-cô-hi, là một trong ba người mạnh bạo đã cùng Đa-vít thách dân Phi-li-tin hiệp lại đặng chiến trận.
9Anih tlim ah kaom Ahoah acaeng Dodo capa Eleazar loe, David hoi nawnto kacaeh misahoih kami thumto thungah athum. Nihcae loe misatuk han amkhueng Philistinnawk to hmaang o moe, Israel kaminawk mah hnuk angnawn o taak naah,
10Khi dân Y-sơ-ra-ên rút đi, thì Ê-lê-a-sa chổi dậy, đánh dân Phi-li-tin cho đến khi tay người tê cứng lại nơi gươm người. Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va khiến cho dân Y-sơ-ra-ên được thắng trận cả thể; chúng chỉ theo sau Ê-lê-a-sa đặng cướp bóc kẻ thù nghịch đó thôi.
10anih loe ban khah moe, ban khah pongah sumsen phok thai ai karoek to, Philistin kaminawk to takroek; to na niah Angraeng mah kalen parai pazawkhaih to paek; to pacoengah kaminawk angzoh o let, toe nihcae loe minawk ih hmuenmae lomh han khue ni angzoh o.
11Sau người ấy có Sa-ma, con trai A-ghe, người Ha-ra. Dân Phi-li-tin đã hiệp lại thành đoàn lũ; ở đó có một đồng gieo đầy đậu, và dân sự đều chạy trốn khỏi trước mặt dân Phi-li-tin.
11Anih pacoengah loe Harar acaeng, Agee capa Shammah to oh. Philistin kaminawk loe cangro aan ohhaih lawk ah angcu o moe, Israel kaminawk cawnh o king naah,
12Nhưng Sa-ma đứng ở giữa ruộng, binh vực nó, và đánh dân Phi-li-tin. Như vậy, Đức Giê-hô-va khiến cho dân Y-sơ-ra-ên được thắng trận cả thể.
12anih loe lawk aum li ah angdoet moe, misa to pakaa, Philistin kaminawk to hum pongah, Angraeng mah kalen parai pazawkhaih to paek.
13Trong vòng ba mươi quan tướng, có ba người đi xuống nhằm lúc mùa gặt và đến cùng Đa-vít tại hang đá A-đu-lam, trong khi một cơ quân Phi-li-tin đóng trại tại trũng Rê-pha-im.
13Cang aah tue naah, kami quithumto zaehoikung kacoehta thumtonawk loe, David ohhaih Adullam thlungkhaw thungah caeh o tathuk; to naah Philistin kaminawk loe, Raphaim azawn ah atai o.
14Bấy giờ Đa-vít ở trong đồn, và ở tại Bết-lê-hem có một đạo binh hờ của dân Phi-li-tin.
14David misa abuephaih imsang thungah oh naah, Philistin kaminawk loe Bethlehem vangpui ah atai o.
15Đa-vít ao ước rằng: Chớ chi ta được uống nước bởi giếng ở bên cửa thành Bết-lê-hem!
15David mah tui anghaeh parai naah, Kami maeto mah ka naek hanah Bethlehem vangpui khongkha taeng ih, tui to na paek nahaeloe aw! tiah thuih.
16Bấy giờ, có ba người quan tướng đầy lòng gan dạ, xông ngang qua trại quân Phi-li-tin, múc nước giếng ở bên cửa thành Bết-lê-hem, rồi đem về dâng cho Đa-vít; nhưng người từ chối không uống, bèn rảy nước đó ra làm lễ dâng cho Đức Giê-hô-va,
16To pongah thacak kami thumtonawk mah, Philistin kaminawk to muk o moe, Bethleham khongkha taeng ih tui to dok o pacoengah, David han sin pae o; toe anih mah to tui to nae pae ai; Angraeng hmaa ah tui to kraih pae king.
17mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi! tôi hẳn không uống đâu. Nước nầy khác nào huyết của ba người nầy, liều mạng sống mình đặng đi đến nơi kia. Vậy người không chịu uống. Đó là sự của ba người tướng mạnh bạo ấy đã làm.
17Aw Angraeng hae tui naek hanah kai hoi angthla nasoe, hae tui loe angmacae hinghaih paek moe, tui dok han kacaeh kaminawk ih athii ah na ai maw oh? tiah a thuih pongah tui to nae pae ai. Hae loe thacak kami thumtonawk mah sak o ih hmuen ah oh.
18A-bi-sai, em Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia, làm tướng của ba người dõng sĩ; người dùng cây giáo mình đánh chết ba trăm người, và có danh tiếng trong ba người dõng sĩ ấy.
18Zeruiah capa, Joab ih amnawk, Abishai loe, thumto kaminawk zaehoikung ah oh; anih mah tayae hoiah kami cumvai thumto thunh moe, hum; to pongah anih doeh kami thumtonawk salakah ahmin amthang toeng.
19Trong cả ba, A-bi-sai có danh hơn hết, và người làm đầu họ. Dầu vậy, người không bằng ba người kia.
19Anih loe thumto kaminawk thungah kalen kue pakoehhaih to hnuk na ai maw? To pongah anih loe nihcae zaehoikung ah oh; toe kami thumto thungah hmaloe koek kami to pha ai.
20Lại có Bê-na-gia ở Cáp-sê-ên, con trai của Giê-hô-gia-đa, là một người mạnh bạo, nổi tiếng vì các công lớn của mình. Người đã giết hai người Mô-áp mạnh bạo hơn hết. Trong một ngày tuyết kia, ấy cũng người nầy đi xuống một cái hầm chứa nước, có con sư tử, và giết nó đi.
20Kabzeel vangpui ih misahoih kami, Jehoiada capa Benaiah loe kalen parai toksah kami ah oh, kaipui hoi kanghmong Moab kami hnetto a hum. Dantui krak naah long khaw thungah caeh tathuk moe, kaipui maeto a hum;
21Lại người cũng đánh giết một người Ê-díp-tô, có bộ tướng đáng sợ hãi. Người Ê-díp-tô cầm nơi tay một cây giáo; còn Bê-na-gia cầm cây gậy xuống đón người. Người rứt cây giáo khỏi tay người Ê-díp-tô, rồi dùng một cây giáo ấy mà giết hắn đi.
21kalen parai Izip kami to hum moe, Izip kami ban ih tayae to lomh pae pacoengah, angmah ih tayae hoiah a thunh let.
22Đó là công việc Bê-na-gia, con trai Giê-hô-gia-đa, đã làm; người được nổi tiếng trong ba người tướng gan dạ kia. Trong bọn ba mươi người, Bê-na-gia có danh tiếng hơn;
22Jehoiada capa Benaiah mah hae baktih hmuennawk hae sak; anih doeh thacak thumto kaminawk baktiah ahmin amthang toeng.
23song không bằng ba người trước. Đa-vít nhận người vào trong bàn mật nghị mình.
23Anih loe thumto kaminawk pongah pakoeh kue han oh, toe hmaloe ih thacak thumto kaminawk to pha ai; David mah anih to angmah toepkung ah suek.
24A-sa-ên, em Giô-áp, là một người thuộc trong ba mươi người dõng sĩ kia; cũng có Eân-ca-nan, con trai của Đô-đô, ở Bết-lê-hem;
24Quithumto thungah kathum kaminawk loe, Joab amnawk Asahel, Bethlehem vangpui ih Dodo capa Elhanan,
25lại có Sa-ma ở Ha-rốt, Ê-li-ca ở Ha-rốt;
25Harod acaeng Shammah, Harod acaeng Elika,
26Hê-lết ở Phê-lết; Y-sa, con trai của Y-ke ở Tê-cô;
26Palti acaeng Helek, Tekoa vangpui ih Ikkesh capa Ira,
27A-bi-ê-xe ở A-na-tốt; Mê-bô-nai ở Hu-sa;
27Anathoth vangpui ih Abiezer, Hushah acaeng Mebunnai,
28Sanh-môn ở A-hô-a; Ma-ha-rai ở Nê-tô-pha;
28Ahoah acaeng Zalmon, Netophah acaeng Maharai,
29Hê-lép, con trai của Ba-a-na ở Nê-tô-pha; Y-tai, con trai của Ri-bai ở Ghi-bê-a, thành của dân Bên-gia-min;
29Netopha acaeng Baanah capa Heled; Benjamin acaeng Gibeah avang ih Ribai capa Ittai,
30Bê-na-gia ở Phi-ra-thôn; Hi-đai ở Na-ha-lê-Gia-ách;
30Pirathon acaeng Benaiah, Gaash tahawt taengah kaom Hiddai,
31A-bi-Anh-bôn ở A-ra-ba; Aùch-ma-vét ở Bạt-cum;
31Arbath acaeng Abi-Albon, Barhum acaeng Azamaveth,
32Ê-li-a-ba ở Sa-bôn; các con trai của Gia-sen, Giô-na-than;
32Shaalbon acaeng Eliahba, Jashen capanawk, Jonathan,
33Sa-ma ở Ha-ra; A-ki-am, con trai của Sa-ra, người A-ra-rít;
33Anih loe Harar acaeng Shammah capa ah oh. Harar acaeng Sharar capa Ahiam,
34Ê-li-phê-lết, con trai của A-cạt-bai, con trai của một người Ma-ca-thít; Ê-li-am, con trai của A-hi-tô-phe ở Ghi-lô;
34Maakah acaeng Ahasbai capa Eliphelet, Gilon acaeng Ahithophel capa Eliam,
35Hết-rai ở Cạt-mên; Pha-rai ở A-ráp;
35Karmel acaeng Hezrai, Arba acaeng Paarai,
36Di-ganh, con trai của Na-than, ở Xô-ba; Ba-ni ở Ga-đi;
36Gad acaeng Bani, Zobah vangpui ih Nathan capa Igal,
37Xê-léc, người Am-môn, Na-ha-rai ở Bê-ê-rốt, là kẻ vác binh khí cho Giô-áp, con trai của Xê-ru-gia;
37Ammon kami Zelek, Zeruiah capa Joab ih maiphaw maica phaw kami, Beeroth acaeng Nahari,
38Y-ra ở Giê-the; Ga-rép ở Giê-the;
38Ithra acaeng Ira, Ithra acaeng Gareb hoi
39U-ri người Hê-tít; cộng là ba mươi bảy người.
39Hit acaeng Uriah cae to ni; sangqum boih ah kami quithum, sarihto oh o.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.