Job 29
Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Job vervolgde zijn rede, en sprak
1Gióp cứ nói lẽ luận cao mình, mà rằng:
2Ach, was ik als in vroeger maanden, In de tijd, toen God mij behoedde,
2Oâi! Ước gì tôi được như buổi trước, Như trong các ngày mà Đức Chúa Trời gìn giữ tôi;
3Toen Hij zijn lamp boven mijn hoofd liet stralen, En ik bij zijn licht door de duisternis ging;
3Khi ngọn đuốc Chúa soi trên đầu tôi; Và nhờ ánh sáng Ngài, tôi bước qua sự tối tăm.
4Zoals ik was in mijn beste dagen Toen God mijn tent nog beschutte!
4Chớ chi tôi được như lúc còn tráng kiệt, Khi tình thiệt hữu của Đức Chúa Trời còn đoái đến trại tôi;
5Toen de Almachtige nog met mij was, Mijn kinderen mij nog omringden;
5Khi Đấng Toàn năng còn ở cùng tôi, Và các con cái tôi vây quanh tôi;
6Toen mijn voeten zich baadden in boter, De rots, waar ik stond, beken olie liet stromen;
6Lúc tôi rửa chân trong sữa, Và hòn đá phun suối dầu ra cho tôi!
7Als ik uitging naar de poort van de stad, En op het plein mijn zetel liet zetten:
7Khi tôi đi ra đến cửa thành, Sửa soạn chỗ ngồi mình tại phố chợ,
8Trokken de jongemannen zich terug, zodra ze mij zagen, Rezen de grijsaards op en bleven staan,
8Các gã trai trẻ thấy tôi bèn ẩn đi, Và các người già cả đều chổi dậy và đứng;
9Staakten de edelen hun gesprek En legden de hand op hun mond.
9Những quan trưởng kiêng nói, Và lấy tay bụm miệng;
10De stem der leiders verstomde, Hun tong kleefde aan hun gehemelte vast;
10Tiếng người tước vị nín thinh, Và lưỡi họ dính nơi ổ gà.
11Toen het oor, dat het hoorde, mij gelukkig prees En het oog, dat het zag, mij bijval schonk!
11Khi tai ai nghe tôi, bèn xưng tôi có phước, Mắt ai thấy tôi, bèn làm chứng cho tôi.
12Want ik hielp den arme, die om bijstand riep, Den wees, die geen helper meer had;
12Aáy vì tôi giải cứu kẻ khốn cùng kêu cầu, Và kẻ mồ côi không ai giúp đỡ.
13Dien de ondergang dreigde, zegende mij, Het hart der weduwe vrolijkte ik op;
13Kẻ gần chết chúc phước cho tôi, Và tôi làm cho lòng người góa bụa nức nở vui mừng.
14Rechtschapenheid trok ik aan als een kleed, Mijn gerechtigheid als een mantel en kroon.
14Tôi mặc lấy sự công bình, và nó che phủ tôi, Sự ngay thẳng tôi khác nào áo ngoài và mão triều thiên.
15Ik was de ogen voor blinden, De voeten voor kreupelen;
15Tôi đã như con mắt cho kẻ mù, Và như chân cho kẻ què.
16Voor armen was ik een vader, Voor onbekenden onderzocht ik het pleit.
16Tôi đã làm cha cho kẻ nghèo khó, Còn duyên cớ của kẻ lạ, tôi tra xét cho rõ ràng.
17Maar den boosdoener brak ik de tanden, En rukte hem de prooi uit zijn kaken.
17Tôi bẻ gẫy hàm kẻ bất công, Và rứt mồi nó ngậm nơi răng.
18Ik dacht bij mijzelf: Oud zal ik sterven Mijn dagen zullen talrijk zijn als het zand;
18Tôi bèn nói rằng: Ta sẽ thác trong ổ của ta; Ngày ta sẽ nhiều như hột cát;
19Mijn wortel zal openstaan voor het water, De dauw op mijn takken vernachten;
19Rễ ta bò ăn dài theo nước, Và cả đêm sương đọng trên nhành ta.
20Mijn eer blijft steeds nieuw, Mijn boog wint aan jeugdige kracht in mijn hand!
20Vinh hiển ta mới mẻ với ta luôn, Cung ta được cứng mạnh lại trong tay ta.
21Ze luisterden zwijgend naar mij En wachtten mijn beslissing af;
21Người ta lắng tai nghe tôi, chờ đợi, Và làm thinh đặng nghe lời tôi bàn.
22Had ik uitgesproken, dan nam niemand het woord, Maar mijn rede druppelde op hen neer.
22Sau khi tôi nói, chúng không còn đáp lại; Lời tôi nói gội nhuần trên chúng (như sương).
23Ze verlangden naar mij als naar regen, Met open mond als naar een late bui.
23Họ trông đợi tôi như trông đợi mưa, Hả miệng ra dường như vua tại giữa quân đội, Khác nào một kẻ an ủi những người sầu.
24Lachte ik hun toe, ze durfden het niet geloven, En vingen het stralen van mijn aangezicht op.
24Tôi mỉn cười với chúng, khi chúng bị ngã lòng; Họ chẳng hề làm rối nét mặt bình tịnh tôi được.
25Bezocht ik hen, ik zat bovenaan, Troonde als een vorst bij zijn troepen, als een die treurenden troost.
25Tôi chọn con đường cho chúng, và ngồi làm đầu họ. ỳ như vua tại giữu quân đội, Khác nào một kẻ an ủy những người sầu.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.