Solomona
Chapter 16
Baibala Hemolele (Hawaii…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1O KA makaukau o ko ke kanaka naau, A me ka pane ana o ke elelo, no Iehova mai ia.
1Việc toan liệu của lòng thuộc về loài người; Còn sự đáp lời của lưỡi do Đức Giê-hô-va mà đến.
2O na aoao a pau o ke kanaka ua maemae i kona maka iho; Aka, kaupaona o Iehova i na uhane.
2Các đường lối của người đều là trong sạch theo mắt mình; Song Đức Giê-hô-va cân nhắc cái lòng.
3E hooili aku i kau mau hana maluna o Iehova, A e hookupaaia kou mau manao.
3Hãy phó các việc mình cho Đức Giê-hô-va, Thì những mưu ý mình sẽ được thành công.
4Hana iho la o Iehova i na mea a pau nona iho; I ka mea hewa hoi kekahi no ka la e poiuo ai.
4Đức Giê-hô-va đã dựng nên muôn vật để dùng cho Ngài; Đến đỗi kẻ ác cũng vậy, để dành cho ngày tai họa.
5He hoopailua ia Iehova na naau kiekie a pau; Ina e kui kahi lima i kahi lima, aole nae e ole kona hoopaiia.
5Phàm ai có lòng kiêu ngạo lấy làm gớm ghiếc cho Đức Giê-hô-va; Quả thật nó sẽ chẳng được khỏi bị phạt.
6Ma ka lokomaikai a me ka oiaio ua kalaia ka hewa; Ma ka makau ia Iehova ka haalele ana i ka hewa.
6Nhờ sự nhân từ và chân thật tội lỗi được chuộc; Và bởi sự kính sợ Đức Giê-hô-va người ta xây bỏ điều ác.
7I ka manao oluolu ana o Iehova i ka aoao o ke kanaka, Noho launa no kona poe enemi ia ia.
7Khi tánh hạnh của người nào đẹp lòng Đức Giê-hô-va, Thì Ngài cũng khiến các thù nghịch người ở hòa thuận với người.
8Maikai kahi mea iki me ka pono hoi kekahi, Mamua o ka waiwai nui ke pono ole.
8Thà ít của mà có sự công bình, Hơn là nhiều hoa lợi với sự bất nghĩa cặp theo.
9Noonoo iho la ko ke kanaka naau i kona aoao iho; Aka, na Iehova e alakai i kona mau kapuwai.
9Lòng người toan định đường lối mình; Song Đức Giê-hô-va chỉ dẫn các bước của người.
10Aia ka olelo kupono ma na lehelehe o ke alii; Ma ka hooponopono ana aole i hewa kona waha.
10Lời của Chúa ở môi vua; Miệng người sẽ không sai lầm khi xét đoán.
11O ke kaupaona a me na mea anapaona pololei, na Iehova no ia; O kana hana no na mea anapaona a pau iloko o ka eke.
11Trái cân và vá cân công bình thuộc về Đức Giê-hô-va; Các trái cân trong bao là công việc của Ngài.
12He mea hoopailua no na alii ke hana hewa; No ka mea, ma ka pono i paa'i ka nohoalii.
12Làm gian ác, ấy là điều gớm ghiếc cho vua chúa; Vì nhờ công bình ngôi nước được lập vững bền.
13O ka makemake o na'lii. oia na lehelehe pono, A o ka mea olelo pololei, oia ka i alohaia.
13Môi miệng người công bình là sự vui vẻ cho các vua; Họ ưa mến kẻ nói ngay thẳng.
14O ka huhu o ke alii, o na elele ia no ka make; O ke kanaka akamai, oia ke hoomaalili aku.
14Cơn thạnh nộ của vua khác nào sứ giả sự chết; Nhưng người khôn ngoan làm cho nó nguôi đi.
15Ma ka maka oluolu o ke alii ke ola, O kona lokomaikai hoi ua like me ke ao i ke kuaua hope.
15Nhờ sắc mặt vua sáng sủa bèn được sự sống; Aân điển người khác nào áng mây dẫn mưa muộn.
16O ka loaa ana o ke akamai, ua maikai ia mamua o ke gula; O ka loaa ana o ka naauao, e pono ke kohoia mamua o ke kala.
16Được sự khôn ngoan, thật quí hơn vàng ròng biết mấy! Được thông sáng, đáng chuộng hơn bạc biết bao!
17O ke alanui o ka poe pololei, hele ae la ia mai ka hewa aku; O ka mea malama i kona uhane, oia ke kiai i kona aoao.
17Đạo của người ngay thẳng, ấy là lìa bỏ sự ác; Ai canh giữ tánh nết mình giữ lấy linh hồn mình.
18Mamua o ka hina ana, ka haaheo, A mamua o ka haule ana ka naau kiekie.
18Sự kiêu ngạo đi trước, sự bại hoại theo sau, Và tánh tự cao đi trước sự sa ngã.
19E aho ka naau haahaa iwaena o ka poe akahai, Mamua o ka hoopuunaue ana i ka waiwai pio me ka poe haaheo.
19Thà khiêm nhượng mà ở với người nhu mì, Còn hơn là chia của cướp cùng kẻ kiêu ngạo.
20O ka mea huli pono i kekahi mea e loaa ia ia ka maikai: O ka mea paulele ia Iehova e pomaikai ana oia.
20Ai giữ theo đạo lý tìm được ích; Và ai trông cậy nơi Đức Giê-hô-va lấy làm có phước thay.
21O ka mea naau akamai, e kapaia he naauao; Ma ka oluolu o na lehelehe e mahuahua ai ka ike.
21Ai có lòng khôn ngoan được gọi là thông sáng; Lời dịu dàng gia thêm sự tri thức.
22He punawai ola ka naauao i ka mea nona ia; O ke aoia mai o ka poe lapuwale, he lapuwale no ia.
22Người có được thông sáng, tức có được nguồn sự sống; Nhưng sự điên dại của kẻ ngu muội, ấy là sự sửa phạt của nó.
23O ka mea naauao, ao no oia i kona waha iho; Hooponopono hoi oia i kona mau lehelehe.
23Lòng người khôn ngoan dạy dỗ miệng mình, Và thêm sự học thức nơi môi của mình.
24He mea ono na olelo oluolu. He ono i ka uhane, a he ola i ka iwi.
24Lời lành giống như tàng ong, Ngon ngọt cho tâm hồn, và khỏe mạnh cho xương cốt.
25Pololei kekahi aoao i ko ke kanaka manao; Aka, o kona hope, oia na aoao o ka make.
25Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng cuối cùng nó thành ra cái nẻo sự chết.
26O ka mea hana, hana oia nana iho: O kona waha ka i koi mai ia ia.
26Sự biết đói của kẻ lao khổ giúp làm việc cho người, Bởi vì miệng người thúc giục người.
27O ke kanaka aia, huai oia i ka ino; A ma kona mau lehelehe he ahi e aa ana.
27Thằng điếm toan mưu hại người ta; Và trên môi nó có như ngọn lửa hừng.
28O ke kanaka hoopaapaa, hoeueu oia i ka hakaka; A o ka mea holoholo olelo, hookaawale no ia i na makamaka.
28Kẻ gian tà gieo điều tranh cạnh; Và kẻ thèo lẻo phân rẽ những bạn thiết cốt.
29O ke kanaka huhu, hoowalewale oia i kona hoalauna, Alakai hoi ia ia ma ka aoao maikai ole.
29Kẻ cường bạo quyến dụ bậu bạn mình, Và dẫn người vào con đường không tốt.
30Hoopili oia i kona mau maka e noonoo ino ana: Naunau oia i kona lehelehe a hoomaopopo i ka hewa.
30Kẻ nào nhắm mắt đặng toan liệu điều gian tà, Và kẻ nào bặm môi mình, đều làm thành việc ác.
31He lei naui ke poohina, Ke loaa ia ma ka aoao o ka pono.
31Tóc bạc là mão triều thiên vinh hiển, Miễn là thấy ở trong đường công bình.
32Maikai ke ahonui mamua o ka ikaika; A o ka mea hoomalu i kona uhane mamua o ka mea hoopio I ke kulanakanhale.
32Người chậm nóng giận thắng hơn người dõng sĩ; Và ai cai trị lòng mình thắng hơn kẻ chiếm lấy thành.
33Ma ka puolo i hooleiia ai ka hailona, Na Iehova nae ka hooponopono ana.
33Người ta bẻ thăm trong vạt áo; Song sự nhất định do nơi Đức Giê-hô-va mà đến.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.