Oihana 10
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A IA ma Kaisareia kekahi kanaka, o Korenelio kona inoa, he lunahaneri no kekahi papakoa i kapaia ka Italia.
1Trong thành Sê-sa-rê, có một người tên là Cọt-nây, làm đội trưởng của đội binh gọi là Y-ta-li.
2He haipule, a makau ia i ke Akua, a me ko kona hale a pau, manawalea nui no ia i kanaka, a pule mau no ia i ko Akua.
2Người vẫn là đạo đức, cùng cả nhà mình đều kính sợ Đức Chúa Trời, người hay bố thí cho dân, và cầu nguyện Đức Chúa Trời luôn không thôi.
3Ma ka hora aiwa paha o ka la, ike paka aku la ia ma ka hihio, i anela o ke Akua, e hele mai ana io na la, a i mai la ia ia, E Korenelio.
3Đang ban ngày, nhằm giờ thứ chín, người thấy rõ ràng trong sự hiện thấy có một vị thiên sứ của Đức Chúa Trời vào nhà mình, và truyền rằng: Hỡi Cọt-nây!
4A i ka haka pono ana ia ia, makau iho la, i aku la, E ka Haku, heaha ia? I mai la kela ia ia, Ua pii iluna kau mau pule, a me kau mau manawalea, i mea hoomanao imua o ke Akua.
4Đôi mắt người ngó chăm thiên sứ và run sợ lắm, thưa rằng: Lạy Chúa, có việc chi? Thiên sứ nói: Lời cầu nguyện cùng sự bố thí ngươi đã lên thấu Đức Chúa Trời, và Ngài đã ghi nhớ lấy.
5E hoouna aku oe ano i mau kanaka ma Iope, e kii ia Simona, i kapaia o Petero.
5Vậy, bây giờ hãy sai người đến thành Giốp-bê, mời Si-môn nào đó, cũng gọi là Phi-e-rơ.
6Ua hookipaia oia o Simona ka hanaili, aia i ka hale ma kahakai: oia ka mea nana e hai mai ia oe i ka pono au e hana aku ai.
6Người hiện trọ nơi Si-môn, là thợ thuộc da, nhà ở gần biển.
7A hala aku la ka anela i olelo aku ai ia ia, alaila hea aku la ia i na ohua ona elua, a me kekahi koa haipule o ka poe malama mau ia ia.
7Khi thiên sứ, là đấng truyền cho người, đã trở lui, thì Cọt-nây gọi hai người trong đám đầy tớ mình và một tên lính tin kính trong những lính thuộc về mình,
8A hoike ana'ku i na mea a pau ia lakou, a hoouna aku la ia lakou i Iope.
8mà thuật lại mọi điều cho họ nghe, rồi sai đến thành Giốp-bê.
9A ia la ao, i ko lakou holo ana, a hookokoke ana aku i ke kulanakauhale, pii ae la o Petero i kahi maluna o ka hale e pule ai, i ke ono paha o ka hora.
9Bữa sau, trong lúc ba người ấy đang đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện.
10Pololi loa iho la, makemake ae la ia e ai; a i ko lakou hoomakaukau ana, haule mai maluna ona he akaku;
10Người đói và thèm ăn; khi người ta đang dọn cho ăn, thì người bị ngất trí đi.
11Ike aku la ia, ua weheia ka lani, a iho mai la kekahi puolo io na la, ua like me ke kuina nui i huiia na kihi eha, a kuuia iho la ilalo i ka honua:
11Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất:
12Maloko ona na holoholona wawae eha a pau o ka honua, a me na mea hihiu, a me na mea kolo, a me na manu o ka lewa.
12thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời.
13A hiki mai la kekahi leo io na la, E Petero; e ala, e pepehi, a ai.
13Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn.
14I aku la o Petero, Aole loa pela, e ka Haku; no ka mea, aole loa au i ai i na mea pono ole a pau, a me na mea haumia.
14Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ.
15Hiki hou mai ua leo la ia ia, o ka lua ia, O ka mea i huikalaia e ke Akua, mai kapa aku oe, he pono ole.
15Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.
16Ekolu hana ana mai pela; a lawe hou ia'ku ua puolo la i ka lani.
16Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.
17I ko Petero kanalua ana iloko ona, i ke ano o ke akaku ana i ike ai, aia hoi, na kanaka i hoounaia mai e Korenelio, ua ninau mai i ka hale o Simona, a ku iho la lakou ma ka ipuka.
17Phi-e-rơ đang nghi ngờ về ý nghĩa của sự hiện thấy mình đã thấy, thì các người mà Cọt-nây sai đi đã hỏi thăm được nhà Si-môn, và tới đứng tận cửa.
18Hea mai lakou, ninau mai la, Ke noho nei anei o Simona maanei, o ka mea i kapaia o Petero?
18Họ kêu và hỏi đây có phải là nơi Si-môn tức Phi-e-rơ ở chăng.
19I ka noonoo ana o Petero i ua akaku la, olelo mai la ka Uhane ia ia, Aia hoi, ke imi mai nei na kanaka ekolu ia oe.
19Phi-e-rơ còn đang ngẫm nghĩ về sự hiện thấy đó, thì Đức Thánh Linh phán cùng người rằng: Kìa, có ba người đang tìm ngươi.
20Ea, e ku oe, a e iho ilalo, a e holo pu mo lakou, mai kanalua; no ka mea, na'u no lakou i hoouna.
20Vậy, hãy đứng dậy, xuống mà đi với họ, chớ hồ nghi, vì ta đã sai họ đó.
21Iho mai la o Petero ilalo i ua poe kanaka la i hoounaia mai io na la e Korenelio, i mai la, Eia no wau ka mea a oukou i imi mai nei. Heaha ka mea a oukou i hele mai ai ia nei?
21Phi-e-rơ bèn xuống cùng họ mà nói rằng: Ta đây, là người các ngươi đang tìm; các ngươi đến đây có việc gì?
22I mai la lakou, O Korenelio, he lunahaneri, he kanaka pono, e makau ana no hoi i ke Akua, ua ike maopopo ia e ka lahuikanaka a pau o na Iudaio, a na kauohaia ia e kekahi anela hemolele, mai ke Akua mai, e kii aku ia oe e holo i kona hale, i lohe oia i na olelo ma ou la.
22Họ trả lời rằng: Đội trưởng Cọt-nây là người công bình, kính sợ Đức Chúa Trời, cả dân Giu-đa đều làm chứng tốt về người, người đó đã bởi một vị thiên sứ thánh mà chịu mạng lịnh từ nơi cao rằng phải mời ông về nhà và nghe lời ông.
23Alaila hea aku la oia ia lakou, a hookipa mai la. A ia la ae, ku ae la ia a hele pu me lakou, a hele pu aku no rae ia kekahi poe hoahanau no Iope.
23Phi-e-rơ bèn mời họ vào nhà và cho trọ tại đó. Ngày mai, Phi-e-rơ chờ dậy đi với họ, có một vài người trong hàng anh em từ Giốp-bê cùng đi với.
24A ia la ae, hiki aku la lakou i Kaisareia; a e kakali ana o Korenelio ia lakou, ua hoakoakoa oia i kona poe hoahanau a me kona poe hoalauna punahele.
24Bữa sau, đến thành Sê-sa-rê. Cọt-nây với bà con và bạn thiết mà người đã nhóm lại tại nhà mình đang chờ đợi.
25A i ko Petero komo ana aku, halawai mai la o Korenelio me ia, a moe iho la kela ma kona mau wawae, a hoomana aku la.
25Phi-e-rơ vừa vào, thì Cọt-nây ra rước, phục xuống dưới chân người mà lạy.
26Hoala mai la o Petero ia ia, i mai la, E ku iluna; no ka mea, he kanaka no hoi au.
26Nhưng Phi-e-rơ đỡ người dậy, nói rằng: Ngươi hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi.
27A i ko lana kamailio pu ana, komo ae la ia iloko, a ike iho la i ka poe i hoakoakoaia mai he nui.
27Phi-e-rơ đang nói chuyện với Cọt-nây, bước vào, thấy có nhiều người nhóm lại.
28I mai la oia ia lakou, Ua ike no oukou, he mea kapu i ko kanaka Iudaio, e nonoho pu a me ka holo aku i kekahi mea o ka aina e; aka, ua hoike mai ke Akua ia'u, aole e kapa aku i kekahi kanaka, he pono ole, a he haumia.
28Người nói cùng chúng rằng: Người Giu-đa vốn không được phép giao thông với người ngoại quốc hay là tới nhà họ; nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ cho ta biết chẳng nên coi một người nào là ô uế hay chẳng sạch.
29No ia mea, i ko'u kiiia'e nei, hele mai no wau me ke kuipehi ole. Nolaila, ke ninau aku nei au, no ke aha la oukou i kii mai ai ia'u.
29Nên khi các ngươi đã sai tìm, thì ta chẳng ngại gì mà đến đây. Vậy ta hỏi vì việc chi mà các ngươi mời ta đến.
30I aku la o Korenelio, Eha la mamua aku nei, e hookeai ana au, a hiki i keia hora; a i ka hora aiwa, pule iho la au ma ko'u hale, aia hoi, ku mai la kekahi kanaka imua o'u me ka aahu hinuhinu,
30Cọt-nây trả lời rằng: Đã bốn ngày nay, nhằm giờ thứ chín, tôi đang ở nhà cầu nguyện, thình lình có một người mặc áo sáng lòa, hiện ra trước mặt tôi,
31I mai la, e Korenelio, ua loheia kau pule, ua hoomanaoia no hoi kau mau hoomanawalea ana imua o ke Akua.
31mà phán rằng: Hỡi Cọt-nây, lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm, Đức Chúa Trời đã ghi nhớ việc bố thí của ngươi.
32Nolaila e hoouna aku oe ma Iope, e kii ia Simona, i kapaia o Petero; ua hookipaia ia maloko o ka hale o Simona ka hanaili, aia ma ke kahakai; a hiki mai ia, nana no e olelo mai ia oe.
32Vậy, ngươi hãy sai đến thành Giốp-bê, mời Si-môn, là Phi-e-rơ đến đây: người đang ở tại nhà Si-môn, thợ thuộc da, gần biển.
33No ia mea, hoouna koke aku la au i ou la, a ua hana pono oe i kou holo ana mai. Kia noi makou a pau loa imua i ke alo o ke Akua e hoolohe i na mea a pau i kauohaia mai ai ia oe e ke Akua.
33Tức thì tôi sai tìm ông, mà ông đến đây là rất phải. Vậy, bây giờ, thay thảy chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời, để nghe mọi điều Chúa đã dặn ông nói cho chúng tôi.
34A oaka ae la ko Petero waha, i mai la, Ke ike nei au he oiaio no, aole ke Akua i manao mai i ko waho o ke kanaka:
34Phi-e-rơ bèn mở miệng nói rằng: Quả thật, ta biết Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai,
35Aka, ma na luhui a pau, ua oluolu ia i na mea i makau ia ia, a me ka haua pono.
35nhưng trong các dân, hễ ai kính sợ Ngài và làm sự công bình, thì nấy được đẹp lòng Chúa.
36O ka olelo ana i hoouna mai ai i na mamo a Iseraela, o hai ana i maluhia ma o Iesu Kristo la; (oia no ka Haku no na mea a pau.)
36Aáy là lời Ngài đã phán cùng con cái Y-sơ-ra-ên, khi rao giảng tin lành về sự bình an bởi Đức Chúa Jêsus-Christ, tức là Chúa của loài người.
37Ua ike no oukou i ka olelo I kaulana ma Iudea a pau, ma Galilaia ka hoomaka ana, mahope iho o ka bapetizo a Ioane i hai mai ai.
37Việc đã bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi tràn ra trong cả xứ Giu-đê, kế sau Giăng đã giảng ra phép báp-tem, thì các ngươi biết rồi;
38O Iesu no Nazareta, ua poni ke Akua ia ia me ka Uhane Hemolele, a me ka mana; nana no i kaahele e hana maikai ana, a me ka hoola ana i na mea a pau i hooluhiia e ka diabolo; no ka mea, o ke Akua pu kekahi me ia.
38thể nào Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.
39He poe hoike makou i na mea a pau ana i hana'i ma ka aina o na Iudaio, a me Ierusalema; na lakou no ia i pepehi, a kau aku hoi maluna o ka laau.
39Chúng ta từng chứng kiến về mọi điều Ngài đã làm trong xứ người Giu-đa và tại thành Giê-ru-sa-lem. Chúng đã treo Ngài trên cây gỗ mà giết đi.
40Hoala mai ke Akua ia ia i ke kolu o ka la, a hoike mai no hoi ia ia ma ke akea:
40Nhưng ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra,
41Aole nae i kanaka a pau loa, aka, i ka poe hoike a ke Akua i wae mua ai, ia makou no, i ka poe i ai pu a i inu pu me ia mahope o kona alahouana, mai ka make mai.
41chẳng hiện ra với cả dân chúng, nhưng với những kẻ làm chứng mà Đức Chúa Trời đã chọn trước, tức là với chúng ta, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại.
42Nana no makou i kauoha iho, e ao aku i kanaka, a e hoike aku, oia ka mea i hooholo e ia e ke Akua, i lunakanawai, no ka poe ola, a me ka poe make.
42Lại Ngài đã biểu chúng ta khá giảng dạy cho dân chúng, và chứng quyết chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết.
43Ua hoike maopopo mai ka poe kaula a pau nona, e loaa ke kala ana o ka hala ma kona inoa, i ka poe a pau i manaoio ia ia.
43Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài.
44I ka Petero hai ana mai i keia mau olelo, haule mai ka Uhane Hemolele mai una o ka poe a pau i lohe ia olelo.
44Khi Phi-e-rơ đang nói, thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo.
45O ka poe ma ke okipoepoe i manaoio, a i hele pu me Petero, kahaha iho la lakou, no ka mea, na niniuiia mai ka haawina o ka Uhane Hemolele mai una o ko na aina e.
45Các tín đồ đã chịu phép cắt bì, là những kẻ đồng đến với Phi-e-rơ, đều lấy làm lạ, vì thấy sự ban cho Đức Thánh Linh cũng đổ ra trên người ngoại nữa.
46Ua lohe lakou i ka lakou olelo ana mai, ma na olelo e, a me ka hoonani aku i ke Akua. Alaila ninau mai la o Petero,
46Vì các tín đồ đó nghe họ nói tiếng ngoại quốc và khen ngợi Đức Chúa Trời.
47E hiki anei i kekahi ke papa mai i ka wai i bapetizo ole ia lakou nei, ka poe i loaa ka Uhane Hemolele, o like me makou?
47Bấy giờ Phi-e-rơ lại cất tiếng nói rằng: Người ta có thể từ chối nước về phép báp-tem cho những kẻ đã nhận lấy Đức Thánh Linh cũng như chúng ta chăng?
48Kauoha mai la ia, o bapetizoia lakou ma ka inoa o ka Haku. Alaila nonoi aku la lakou ia ia, e noho ia i kekahi mau la.
48Người lại truyền làm phép báp-tem cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ. Họ bèn nài người ở lại với mình một vài ngày.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.