Caeltueih
Chapter 10
Baibal Olcim (Matupi Chin)

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Old Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Old Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Caeltueih 10

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Te vaengah Kaiserea kah hlang pakhat, a ming ah Kornelius, Italian caem la a khue khuikah rhalboei te om.
1Trong thành Sê-sa-rê, có một người tên là Cọt-nây, làm đội trưởng của đội binh gọi là Y-ta-li.
2Anih te cuep tih a imko boeih loh Pathen a rhih. Pilnam taengah doedannah muep a saii tih Pathen taengah a yoeyah la thangthui.
2Người vẫn là đạo đức, cùng cả nhà mình đều kính sợ Đức Chúa Trời, người hay bố thí cho dân, và cầu nguyện Đức Chúa Trời luôn không thôi.
3Hnin at tah khonoek pako tluk vaengah a mangthui ah a hmuh. Te vaengah Pathen kah puencawn te anih taengla kun tih, “Kornelius,” a ti nah.
3Đang ban ngày, nhằm giờ thứ chín, người thấy rõ ràng trong sự hiện thấy có một vị thiên sứ của Đức Chúa Trời vào nhà mình, và truyền rằng: Hỡi Cọt-nây!
4Anih te a hmaitang vaengah lakueng ngaiha la om tih, “Balae aka om Boeipa,” a ti nah. Te dongah anih te , “Na thangthuinah neh na doedannah loh Pathen hmaiah kutmuei la cet coeng .
4Đôi mắt người ngó chăm thiên sứ và run sợ lắm, thưa rằng: Lạy Chúa, có việc chi? Thiên sứ nói: Lời cầu nguyện cùng sự bố thí ngươi đã lên thấu Đức Chúa Trời, và Ngài đã ghi nhớ lấy.
5Te dongah Joppa la hlang pahoi tueih lamtah Simon Peter la a khue hlang pakhat te tah laeh.
5Vậy, bây giờ hãy sai người đến thành Giốp-bê, mời Si-môn nào đó, cũng gọi là Phi-e-rơ.
6Anih te tuipuei kaengkah im aka om maehpho Simon taengah pah lah ko,” a ti nah.
6Người hiện trọ nơi Si-môn, là thợ thuộc da, nhà ở gần biển.
7Anih aka voek puencawn te a caeh van phoeiah tah imkhut rhoi neh amah aka khuituk rhoek khuikah aka cuep rhalkap te a khue.
7Khi thiên sứ, là đấng truyền cho người, đã trở lui, thì Cọt-nây gọi hai người trong đám đầy tớ mình và một tên lính tin kính trong những lính thuộc về mình,
8Amih te a soep la a uen phoeiah Joppa la a tueih.
8mà thuật lại mọi điều cho họ nghe, rồi sai đến thành Giốp-bê.
9A vuen ah amih te cet uh tih kho a yoei thuem kah khonoek parhuk tluk vaengah Peter tah thangthui ham imphu la yoeng.
9Bữa sau, trong lúc ba người ấy đang đi đường và đã đến gần thành, vừa nhằm giờ thứ sáu Phi-e-rơ leo lên mái nhà để cầu nguyện.
10Te vaengah a pongnaeng la om tih caak ten ham khaw a ngaih. Tedae a tawn uh vaengah anih te amih taengah mueimang a om pah.
10Người đói và thèm ăn; khi người ta đang dọn cho ăn, thì người bị ngất trí đi.
11Te vaengah vaan ke ong uh tih hno pakhat loh a kil pali neh himbai len bangla ha suntla tih diklai la a colh te a hmuh.
11Người thấy trời mở ra, và có vật chi giống như một bức khăn lớn níu bốn chéo lên, giáng xuống và sa đến đất:
12A khuiah diklai kah rhamsa boeih neh rhulcai khaw, vaan kah vaa khaw om.
12thấy trong đó có những thú bốn cẳng, đủ mọi loài, côn trùng bò trên đất, và chim trên trời.
13Te vaengah, “Peter thoo, ngawn lamtah ca,” tila anih taengla ol halo pah.
13Lại có tiếng phán cùng người rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy dậy, làm thịt và ăn.
14Tedae Peter loh, “Moenih, Boeipa, tanghnong tangaih neh rhalawt la aka om boeih he ka caak moenih,” a ti nah.
14Song Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì tôi chẳng ăn giống gì dơ dáy chẳng sạch bao giờ.
15Tedae anih te a pabae kah ol bal loh, “ Pathen loh a cim sak tangtae te nang loh poeih boeh,” a ti nah.
15Tiếng đó lại phán cùng người lần thứ hai rằng: Phàm vật chi Đức Chúa Trời đã làm cho sạch, thì chớ cầm bằng dơ dáy.
16Te tlam te voei thum a om phoeiah tah hno te vaan la vil a loh.
16Lời đó lặp lại ba lần; rồi vật ấy liền bị thâu lên trên trời.
17Te dongah mangthui a hmuh te metlam a om poek eh tila Peter loh a khuiah khobing. Te vaengah Kornelius loh a tueih tih Simon im aka toem hlang rhoek khaw vongka ah pakcak ha pai uh.
17Phi-e-rơ đang nghi ngờ về ý nghĩa của sự hiện thấy mình đã thấy, thì các người mà Cọt-nây sai đi đã hỏi thăm được nhà Si-môn, và tới đứng tận cửa.
18Te vaengah pang uh tih, “Peter la a khue Simon te pah mai a he,” a ti uh.
18Họ kêu và hỏi đây có phải là nơi Si-môn tức Phi-e-rơ ở chăng.
19Peter khaw mangthui dongkah te a poek li vaengah Mueihla loh, “Hlang pathum loh nang n'toem uh ke.
19Phi-e-rơ còn đang ngẫm nghĩ về sự hiện thấy đó, thì Đức Thánh Linh phán cùng người rằng: Kìa, có ba người đang tìm ngươi.
20Thoo, suntla lamtah boelhkhoeh kolla amih taengah cet laeh. Kai long ni amih kan tueih,” a ti nah.
20Vậy, hãy đứng dậy, xuống mà đi với họ, chớ hồ nghi, vì ta đã sai họ đó.
21A suntlak phoeiah hlang rhoek te Peter loh, “ Na toem uh te kai ni he. Mebang paelnaehnah nen nim na pai uh te,” a ti nah.
21Phi-e-rơ bèn xuống cùng họ mà nói rằng: Ta đây, là người các ngươi đang tìm; các ngươi đến đây có việc gì?
22Te dongah amih loh, “Rhalboei Kornelius he hlang dueng la om tih Pathen a rhih dongah Judah namtu boeih long khaw a oep. Nang te amah im la tah tih nang lamkah olka hnatun sak ham hlangcim kah puencawn loh a mangthui coeng,” a ti uh.
22Họ trả lời rằng: Đội trưởng Cọt-nây là người công bình, kính sợ Đức Chúa Trời, cả dân Giu-đa đều làm chứng tốt về người, người đó đã bởi một vị thiên sứ thánh mà chịu mạng lịnh từ nơi cao rằng phải mời ông về nhà và nghe lời ông.
23Te dongah amih te a khue tih a pah sak. A vuen ah tah thoo tih amih taengla cet. Te vaengah Joppa lamkah manuca hlangvang rhoek loh anih te a puei uh.
23Phi-e-rơ bèn mời họ vào nhà và cho trọ tại đó. Ngày mai, Phi-e-rơ chờ dậy đi với họ, có một vài người trong hàng anh em từ Giốp-bê cùng đi với.
24A vuen patoeng bal vaengah Kaiserea la kun. Amih te Kornelius loh a lamso tih ana om coeng dongah a huiko neh paya tangkik te a hueh thil.
24Bữa sau, đến thành Sê-sa-rê. Cọt-nây với bà con và bạn thiết mà người đã nhóm lại tại nhà mình đang chờ đợi.
25Peter ham pha tih a kun vaengah amah te Kornelius loh a doe. A kho kungah a bakop thil tih a bawk.
25Phi-e-rơ vừa vào, thì Cọt-nây ra rước, phục xuống dưới chân người mà lạy.
26Tedae Peter loh anih te a thoh tih, “Thoo, kai kamah khaw hlang van ni,” a ti nah.
26Nhưng Phi-e-rơ đỡ người dậy, nói rằng: Ngươi hãy đứng dậy, chính ta cũng chỉ là người mà thôi.
27Anih te a voek tih a kun vaengah muep a tingtun uh a hmuh.
27Phi-e-rơ đang nói chuyện với Cọt-nây, bước vào, thấy có nhiều người nhóm lại.
28Amih taengah khaw, “Judah hlang taengah kap tih kholong a paan vaengah a lolh la muep a om te na hmat uh. Tedae hlang te tanghnong neh rhalawt ti nah pawt ham Pathen loh kai n'tueng coeng.
28Người nói cùng chúng rằng: Người Giu-đa vốn không được phép giao thông với người ngoại quốc hay là tới nhà họ; nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ cho ta biết chẳng nên coi một người nào là ô uế hay chẳng sạch.
29Te dongah kai aka tah taengla hawt ka lo van. Tedae kan dawt mai eh mebang kawng nen lae kai nan tah uh ,” a ti nah.
29Nên khi các ngươi đã sai tìm, thì ta chẳng ngại gì mà đến đây. Vậy ta hỏi vì việc chi mà các ngươi mời ta đến.
30Te vaengah Kornelius loh, “Tahae duela hnin li khuiah khonoek pako kah thangthui neh ka im ah ka om. Te vaengah hlang pakhat loh a himbai cim thik la kai hmaiah pakcak pai tih,
30Cọt-nây trả lời rằng: Đã bốn ngày nay, nhằm giờ thứ chín, tôi đang ở nhà cầu nguyện, thình lình có một người mặc áo sáng lòa, hiện ra trước mặt tôi,
31Kornelius, na thangthuinah te ka hnatun uh tih na doedannah loh Pathen hmaiah a poek coeng .
31mà phán rằng: Hỡi Cọt-nây, lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm, Đức Chúa Trời đã ghi nhớ việc bố thí của ngươi.
32Te dongah Joppa la hlang tueih lamtah, Peter la a khue Simon te khue laeh. Anih te tuipuei kah maehpho Simon im ah pah,’ a ti.
32Vậy, ngươi hãy sai đến thành Giốp-bê, mời Si-môn, là Phi-e-rơ đến đây: người đang ở tại nhà Si-môn, thợ thuộc da, gần biển.
33Te dongah amih te nang taengla tlek kan tueih. Nang long khaw a thenla na saii tih, na pawk coeng . Boeipa loh nang ng'uen boeih te yaak hamla kaimih boeih loh Pathen hmaiah ka phoe uh van coeng,” a ti nah.
33Tức thì tôi sai tìm ông, mà ông đến đây là rất phải. Vậy, bây giờ, thay thảy chúng tôi đang ở trước mặt Đức Chúa Trời, để nghe mọi điều Chúa đã dặn ông nói cho chúng tôi.
34Te dongah Peter loh a ka a ong tih, “Pathen loh tangyahnah a khueh pawt te oltak la ka pom coeng .
34Phi-e-rơ bèn mở miệng nói rằng: Quả thật, ta biết Đức Chúa Trời chẳng hề vị nể ai,
35Tedae namtom boeih khuiah amah aka rhih tih duengnah aka saii rhoek tah amah kah a uem la om.
35nhưng trong các dân, hễ ai kính sợ Ngài và làm sự công bình, thì nấy được đẹp lòng Chúa.
36Ol te Israel ca rhoek taengah a tah tih Jesuh Khrih rhangneh rhoepnah a phong. Anih tah a cungkuem kah Boeipa la a om te na ming uh.
36Aáy là lời Ngài đã phán cùng con cái Y-sơ-ra-ên, khi rao giảng tin lành về sự bình an bởi Đức Chúa Jêsus-Christ, tức là Chúa của loài người.
37Judea tom ah olthang he om coeng. Johan loh a hoe Baptistma hnukah Galilee lamloh a tong coeng.
37Việc đã bắt đầu từ xứ Ga-li-lê rồi tràn ra trong cả xứ Giu-đê, kế sau Giăng đã giảng ra phép báp-tem, thì các ngươi biết rồi;
38Nazareth lamkah Jesuh te Pathen loh Mueihla Cim neh thaomnah neh a koelh. Anih tah tlangnaem tlangphai la pongpa tih Pathen loh anih taengah a om puei dongah rhaithae kah a phaep rhoek khaw boeih a hoeih sak.
38thể nào Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.
39Te dongah kaimih tah a cungkuem kah laipai rhoek ni. Te te Judah kho neh Jerusalem ah khaw a saii. Tedae amah te a ngawn uh tih thing dongah a hoei uh.
39Chúng ta từng chứng kiến về mọi điều Ngài đã làm trong xứ người Giu-đa và tại thành Giê-ru-sa-lem. Chúng đã treo Ngài trên cây gỗ mà giết đi.
40Anih te Pathen loh a thum hnin ah a thoh tih a phoe sak la om coeng .
40Nhưng ngày thứ ba, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, lại cho Ngài được tỏ ra,
41Pilnam boeih taengah pawt tih Pathen kah a hmoel laipai rhoek taengah phoe coeng. Duek lamkah a thoh phoeiah anih loh mamih m'vael puei tih mamih loh anih n'ok puei uh.
41chẳng hiện ra với cả dân chúng, nhưng với những kẻ làm chứng mà Đức Chúa Trời đã chọn trước, tức là với chúng ta, là kẻ đã ăn uống cùng Ngài, sau khi Ngài từ trong kẻ chết sống lại.
42Hlang duek hlang hing kah laitloekkung la Pathen loh anih a hmoel te pilnam taengah hoe tih uen ham mamih ng'uen.
42Lại Ngài đã biểu chúng ta khá giảng dạy cho dân chúng, và chứng quyết chính Ngài là Đấng Đức Chúa Trời đã lập lên để đoán xét kẻ sống và kẻ chết.
43Tonghma rhoek boeih loh anih te a oep. Amah aka tangnah boeih tah a ming neh tholh khodawkngainah a dang,” a ti nah.
43Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng nầy về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài.
44Peter kah a thui ol te a pangthuem vaengah ol aka hnatun rhoek boeih khaw Mueihla Cim loh a tlak thil.
44Khi Phi-e-rơ đang nói, thì Đức Thánh Linh giáng trên mọi người nghe đạo.
45Namtom rhoek te Cim Mueihla kah kutdoe loh a suntlak thil van vaengah, yahvinrhetnah neh uepom Peter aka puei boeih khaw limlum uh.
45Các tín đồ đã chịu phép cắt bì, là những kẻ đồng đến với Phi-e-rơ, đều lấy làm lạ, vì thấy sự ban cho Đức Thánh Linh cũng đổ ra trên người ngoại nữa.
46Amih kah ol a thui uh te a yaak uh vaengah Pathen te a oep uh.
46Vì các tín đồ đó nghe họ nói tiếng ngoại quốc và khen ngợi Đức Chúa Trời.
47Te dongah Peter loh, “Kaimih van bangla Mueihla Cim aka dang amih he nuem pawt ham u long khaw tui hloh thai mahpawh,” a ti.
47Bấy giờ Phi-e-rơ lại cất tiếng nói rằng: Người ta có thể từ chối nước về phép báp-tem cho những kẻ đã nhận lấy Đức Thánh Linh cũng như chúng ta chăng?
48Te dongah amih te Jesuh Khrih ming ah nuem ham a uen. Te phoeiah khohnin a yol khaw om ham anih te a hloep uh.
48Người lại truyền làm phép báp-tem cho họ nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ. Họ bèn nài người ở lại với mình một vài ngày.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.