Caeltueih
Chapter 28
Baibal Olcim (Matupi Chin)

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Old Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Vietnamese Bible (…

Compare with

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Old Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)Stop comparing
Aa
Text size
Line width
Verse numbers

Caeltueih 28

Baibal Olcim (Matupi Chin)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Malta a ti sanglak tah sading la ka hmuh uh.
1Đã được cứu như vậy rồi, chúng ta mới biết cù lao đó tên là Man-tơ.
2Te vaengah kholong rhoek loh kaimih taengah lungnah a tueng sak te a mailai moenih. Rhotui ha pai tih khosik vaengah kaimih ham hmai boeih han toih uh tih n'doe uh.
2Thổ nhân đãi chúng ta một cách nhân từ hiếm có, tiếp rước chúng ta thay thảy gần kề đống lửa lớn đã đốt, vì đang mưa và trời lạnh lẽo.
3Paul loh thingpaem pok at te a sisuk tih hmai dongah a pup hatah hmaihu khui lamkah rhulthae ha thoeng tih a kut a kap pah.
3Phao-lô lượm được một bó củi khô, quăng vào trong lửa, xảy có con rắn lục từ trong bó củi bị nóng bò ra, quấn trên tay người.
4A kut lamkah aka bat satlung te kholong rhoek loh a hmuh uh vaengah khat neh khat te, “Hekah hlang tah hlang aka ngawn la om tih tuili lamloh ha daem ngawn dae dantatnah loh anih he hing sak ham a hlah moenih,” a ti uh.
4Thổ nhân thấy con vật đeo thòng lòng trên tay người, bèn nói với nhau rằng: Thật người nầy là tay giết người; nên dầu được cứu khỏi biển rồi, nhưng lẽ công bình chẳng khứng cho sống!
5Tedae suva te hmai khuila a khoek tih a tloh lam khaw patang pawh.
5Nhưng Phao-lô rảy rắn lục vào lửa, chẳng thấy hề chi hết.
6Tedae anih a duih ham neh a duek la rhup a cungku ham ni a lamtawn uh. Amih te puet lamso dae anih taengah a lang la a om pawt te a hmuh uh. Te dongah poehlip uh tih, “Anih he pathen ni,” a ti uh.
6Họ ngờ người sẽ bị sưng lên, hoặc ngã xuống chết tức thì; nhưng đã đợi lâu rồi, chẳng thấy hại chi cho người, bèn đổi ý mà nói rằng thật là một vì thần.
7Te vaengah a kaepvai hmuen te tah sanglak tongmang a ming ah Poplio kah khohmuen la om. Anih long te kaimih te n'doe tih hnin thum khuiah hlae hlae m'pah sak.
7Trong chỗ đó, có mấy đám ruộng thuộc về người tù trưởng của đảo ấy, tên là Búp-li-u; người nầy đãi đằng chúng ta cách mến khách lắm trong ba ngày.
8Te vaengah Poplio kah a napa te satloh neh tamthae nat tih yalh. Te dongah anih te Paul loh a kun thil tih a kut a tloeng thil phoeiah a thangthui pah hatah anih te hoeih.
8Vả, cha của Búp-li-u nầy đang nằm trên giường đau bịnh nóng lạnh và bịnh lỵ. Phao-lô đi thăm người, cầu nguyện xong, đặt tay lên và chữa lành cho.
9Te tlam te a om dongah sanglak ah aka om tih tloh aka khueh rhoek long khaw ham paan uh tih hoeih uh.
9Nhân đó, ai nấy trong đảo có bịnh, đều đến cùng Phao-lô, và được chữa lành cả.
10Kaimih he amih loh hinyahnah neh muep n'hinyah uh van dongah tuili ka kat uh vaengkah ham a ngoengaih uh te han sang uh.
10Họ cũng tôn trọng chúng ta lắm, và lúc chúng ta đi, thì sửa soạn mọi đồ cần dùng cho chúng ta.
11Hla thum phoeiah sangpho neh ka kat uh tih rhaiphae miknoek Alexandria sanglak ah sikca ka boek uh.
11Sau đó ba tháng, chúng ta xuống tàu ở A-léc-xan-tri mà đi, là tàu đã qua mùa đông tại đảo đó, và có hiệu là Đi-ốt-cua.
12Te vaengah Surakousai la ka thoeng uh tih hnin thum ka om uh.
12Tới thành Sy-ra-cu-sơ rồi, chúng ta ở lại đây ba ngày.
13Te lamkah loh ka khoe uh tih Rhegion te kam pha uh. Tedae hnin at neh tuithim yilh ha hli tih a bae hnin ah Putioloi la ka pawk uh.
13Từ nơi đó, chạy theo mé biển Si-si-lơ, tới thành Rê-ghi-um. Đến ngày mai, vì gió nam nổi lên, nên sau hai ngày nữa chúng ta tới thành Bu-xô-lơ.
14Te ah te manuca rhoek ka hmuh tih amih loh hnin rhih om ham n'cael uh. Te phoeiah te Rom la ka cet uh tangloeng.
14ỳ đó gặp anh em mời chúng ta ở lại bảy với ngày; rồi thì đi đến thành Rô-ma.
15Te lamloh kaimih kawng te manuca rhoek loh a yaak uh tih kaimih doe hamla Appios kholung neh impoem pathum duela ha pawk uh. Amih a hmuh vaengah Paul loh thahluenah la a loh tihPathen te a uem.
15Anh em trong thành nầy nghe nói về chúng ta, bèn ra đến Phô-rum Aùp-bi-u và chỗ Ba Quán mà đón rước chúng ta. Phao-lô thấy anh em, thì cảm tạ Đức Chúa Trời và vững chí.
16Tedae Rom la ka kun uh vaengah Paul te amah aka tawt rhalkap neh amah ngaihloei ah om ham a paek.
16Khi chúng ta đã đến thành Rô-ma, Phao-lô được phép ở riêng với một người lính canh giữ.
17Hnin thum a cum phoeiah Judah rhoek kah a congkhang la aka om rhoek te a hueh tih a tingtun uh vaengah amih te, “Manuca rhoek ka hlang rhoek, kai tah Jerusalem lamloh Roman kut ah thongtla la m'voeih dae pilnam neh pacut rhoek kah khosing te a kingkalh la ka saii moenih.
17Sau ba ngày, người mời các trưởng lão trong dân Giu-đa nhóm lại; đến rồi, người nói rằng: Hỡi anh em ta, dẫu tôi chẳng từng làm điều gì nghịch cùng dân chúng hoặc cùng thói tục tổ phụ chúng ta, mà tôi còn bị bắt tại thành Giê-ru-sa-lem và nộp trong tay người Rô-ma.
18Amih loh kai he n'cae coeng dae dueknah neh a paelnaehnah te ka khuiah a om pawt dongah hlah ham a ngaih uh.
18Những người nầy đã xét việc tôi rồi, thì muốn tha ra, vì tôi chẳng hề làm điều gì đáng chết.
19Te vaengah Judah rhoek kah boekoek dongah Kaisar taeng pha ham ka tanolh. Ka namtu pawt bangla khat khat neh paelnaeh ham vik ha om.
19Song người Giu-đa chống cự điều đó, nên buộc tôi kêu nài đến Sê-sa, nhưng chẳng phải có ý kiện bổn quốc ta đâu.
20He kawng he kungsut tih ni nangmih muei hmuh ham neh uen ham kan cael uh,” a ti nah. Israel kah ngaiuepnah kongah thirhui neh n'ven coeng he.
20Aáy vì cớ đó mà tôi đã xin gặp anh em và nói chuyện với, vì là bởi sự trông cậy của dân Y-sơ-ra-ên nên tôi mang lấy xiềng nầy.
21Te daengah amih loh Paul te , “Nang kawng neh Judea lamkah capat te ka dang uh moenih, nang kawng pakhat khaw a thae la aka thui tih aka puen te manuca khui lamkah pakhat pataeng ha pawk moenih.
21Các người ấy trả lời rằng: Chúng tôi chẳng tiếp thơ từ xứ Giu-đê nói về việc anh, và chẳng ai trong anh em đã đến mách cho chúng tôi hay là nói xấu về anh nữa.
22Tedae namah kah na poek te yaak ham ka ngaih uh. Buhlaelh kawng he tah khotomrhali ah boekoek la ka ming uh la om,” a ti uh.
22Dầu vậy, chúng tôi muốn biết anh nghĩ làm sao; vì về phần đạo nầy, chúng tôi biết người ta hay chống nghịch khắp mọi nơi.
23Te dongah Paul ham a tue a hmoel uh tih a taengah pahnah hmuen ah muep ha pawk uh. Te vaengah Pathen ram te neh a uen tih a yoek phoeiah Moses olkhueng neh tonghma rhoek dongkah Jesuh kawng te amih ham mincang lamkah hlaemhmah duela a saep pah.
23Họ đã hẹn ngày với người, bèn đến thăm tại nơi nhà trọ rất đông; từ buổi sáng đến chiều, người cứ làm chứng và giảng giải với họ về nước Đức Chúa Trời, lấy luật pháp Môi-se và các đấng tiên tri mà gắng sức khuyên bảo họ về Đức Chúa Jêsus.
24Te vaengkah a thui te hlangvang loh a rhooi tih hlangvang loh a hnalval pah.
24Có người chịu tin lời người nói, có kẻ chẳng tin.
25Te dongah a hlinghlang la om uh tih khat neh khat moeng uh thae. Paul kah a thui ol pakhat tah, “Mueihla Cim loh na pa rhoek te tonghma Isaiah dong lamkah,
25Bởi chưng họ không đồng ý với nhau và ra về, nên Phao-lô chỉ nói thêm một lời nầy: Đức Thánh Linh đã phán phải lắm, khi Ngài dùng đấng tiên tri Ê-sai mà phán cùng tổ phụ các ngươi rằng:
26'Pilnam taengah he cet lamtah thui pah. Hnavue neh na yaak sui dae na hmuhming loengloeng mahpawh. Hmuh khaw na hmuh uh sui dae na hmat uh loengloeng mahpawh.
26Hãy đến nơi dân nầy và nói rằng: Các ngươi lấy lỗ tai nghe mà chẳng hiểu chi; Lấy mắt xem mà không thấy gì.
27Pilnam he a ko talh tih, a hna nen khaw a hnatun uh tloel. A mik khaw a him uh. Mik neh hmu uh tih hna nen khaw yaak uh vaengah thinko neh a hmuhming uh vetih rhoeh ha bal uh vaengah amih te ka hoeih sak lah ve,’ a ti tih a thui te thuem coeng.
27Vì lòng dân nầy đã nặng nề; Họ bịt lỗ tai, Nhắm mắt lại, E rằng mắt mình tự thấy, Tai mình tự nghe, Lòng mình tự hiểu, Và họ trở lại Mà ta chữa cho lành được chăng.
28Te dongah Pathen kah khangnah he namtom rhoek taengla a thak vaengah amih loh a yaak uh ham te nangmih taengah om sak ham ming uh,” a ti nah.
28Vậy, hãy biết sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời nầy đã sai đến cho người ngoại; những người đó sẽ nghe theo vậy.
29Te vaengah amah kah impham dongah kumhnih puet ngol pai tih,
29Khi người nói xong, thì các người Giu-đa đi ra, cãi lẫy cùng nhau dữ lắm.
30a taengla aka kun rhoek te boeih a doe.
30Phao-lô ở trọn hai năm tại một nhà trọ đã thuê. Người tiếp rước mọi người đến thăm mình,
31Pathen kah ram te a hoe tih Boeipa Jesuh Khrih kawng khaw sayalh la phaeng phaeng boeih a thuituen.
31giảng về nước Đức Chúa Trời, và dạy dỗ về Đức Chúa Jêsus Christ cách tự do trọn vẹn, chẳng ai ngăn cấm người hết.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.