Oihana 21
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A I ko makou kaawale ana aku, mai o lakou aku, ee aku la makou, a holo pololei mai la i Ko, a ia la ae, i Rode, a malaila mai i Patara.
1Chúng ta phân rẽ các người đó xong, bèn xuống tàu, đi thẳng đến thành Cốt, ngày hôm sau tới thành Rô-đơ, và từ đó đến thành Ba-ta-ra.
2A loaa ia makou kekahi moku e holo ana i Poinike, ee aku la makou, a holo aku la.
2ỳ đó gặp một chiếc tàu, dương buồm chạy qua xứ Phê-ni-xi; chúng ta bèn xuống đi.
3A ike aku la makou ia Kupero, haalele aku la makou ia wahi ma ka lima hema, a holo aku la makou i Suria, a pae makou ma Turo; no ka mea, malaila e hooleiia'i ka ukana o ka moku.
3Thấy đảo Chíp-rơ, thì tránh bên hữu, cứ theo đường đến xứ Sy-ri, đậu tại thành Ty-rơ, vì tàu phải cất hàng hóa tại đó.
4Loaa ia makou kekahi mau haumana, noho iho la makou ilaila i na la ehiku; olelo mai la lakou ia Paulo, na ka Uhane, i pii ole oia i Ierusalema.
4Chúng ta đi tìm được các môn đồ rồi, bèn ở lại với họ bảy ngày. Các môn đồ chịu Đức Thánh Linh cảm động, dặn Phao-lô chớ lên thành Giê-ru-sa-lem.
5A i ka pau ana o keia mau la, haalele iho la makou ia wahi a hele aku la; ukali aloha mai la lakou a pau, a me na wahine, a me na keiki ia makou, a hiki mawaho o na kulanakauhale la; kukuli iho la makou ma kahakai, pule aku la.
5Nhưng, khi kỳ tạm trú chúng ta đã qua, thì lại đi; cả môn đồ với vợ con đều tiễn chúng ta ra đến ngoài thành, ai nấy đều quì xuống trên bờ, cùng nhau cầu nguyện,
6Honi ae la makou i kekahi i kekahi, ee aku la makou i ka moku; a hoi aku la lakou i ko lakou wahi.
6rồi từ giã nhau. Đoạn, chúng ta xuống tàu; môn đồ trở về nhà.
7A pau ko makou holo ana ma ka moku, mai Turo mai, hiki makou i Petolemai, honi aku la i na hoahanau, a noho pu iho la me lakou, hookahi la.
7Còn chúng ta đi hết đường thủy, thì ở thành Ty-rơ sang thành Bê-tô-lê-mai, chào thăm anh em và ở lại với họ một ngày.
8A ia la ae, hele mai la makou ka poe me Paulo a hiki i Kaisareia; a komo aku la iloko o ka hale o Pilipo, o ke kahuna euanelio, oia kekahi o na hiku, a noho pu iho la makou me ia.
8Ngày mai, chúng ta ở nơi đó đi, đến thành Sê-sa-rê; vào nhà Phi-líp, là người giảng Tin Lành, một trong bảy thầy phó tế, rồi ở lại đó.
9Eba ana mau kaikamahine puupaa i wanana mai la.
9Người có bốn con gái đồng trinh hay nói tiên tri.
10Noho iho la makou ilaila i na la he nui, a iho mai la kekahi kaula mai Iudea mai, o Agebo ka inoa.
10Chúng ta ở đó đã mấy ngày, có một người tiên tri tên là A-ga-bút ở xứ Giu-đê xuống.
11A hiki mai la ia io makou la, lawe iho la ia i ko Paulo kaei, nakinaki iho la i kona mau lima a me na wawae ona iho, i ae la, Ke i mai nei ka Uhane Hemolele, Penei e nakinaki ai na Iudaio ma Ierusalema i ke kanaka nona keia kaei, a e haawi aku ia ia i na lima o ko na aina e.
11Người đến thăm chúng ta, rồi lấy dây lưng của Phao-lô trói chân tay mình, mà nói rằng: Nầy là lời Đức Thánh-Linh phán: Tại thành Giê-ru-sa-lem, dân Giu-đa sẽ trói người có dây lưng nầy như vậy, mà nộp trong tay người ngoại đạo.
12A lohe makou i kela mau mea, noi ae la makou, a me kolaila poe ia ia, i pii ole ia i Ierusalema.
12Khi đã nghe bấy nhiêu lời, thì các tín đồ nơi đó và chúng ta đều xin Phao-lô đừng lên thành Giê-ru-sa-lem.
13I mai la o Paulo, Heaha ka oukou e hana'i pela, me ka uwe mai, a nahae ko'u naau? No ka mea, ua makaukau no wau, aole e nakinaki wale no, aka, e make no hoi kekahi ma Ierusalema, no ka inoa o ka Haku o Iesu.
13Nhưng người trả lời rằng: Anh em làm chi mà khóc lóc cho nao lòng tôi? Vì phần tôi sẵn lòng chẳng những để bị trói thôi, lại cũng sẵn lòng vì danh Đức Chúa Jêsus chịu chết tại thành Giê-ru-sa-lem nữa.
14Aole loa ia i ae mai, oki ae la makou, i iho la, E hookoia no ko ka Haku makemake.
14Người chẳng khứng chịu khuyên dỗ, thì chúng ta không ép nữa, mà nói rằng: Xin cho ý muốn của Chúa được nên!
15A mahope iho o keia mau la, hoomakaukau iho la makou, a pii aku la i Ierusalema.
15Qua những ngày đó, chúng ta sắm sửa, rồi lên thành Giê-ru-sa-lem.
16Hele pu aku la no me makou kekahi poe o na haumana, no Kaisareia, e alakai pu ana ia Menasona, no Kupero, he haumana kahiko ia, a hookipaia makou e ia.
16Có mấy người môn đồ ở thành Sê-sa-rê cũng đến đó với chúng ta, dẫn chúng ta vào nhà tên Ma-na-sôn kia, quê ở Chíp-rơ, là một môn đồ lâu nay, và người cho chúng ta trọ tại nhà mình.
17A hiki makou i Ierusalema, apo mai la na haumana ia makou me ka olioli.
17Chúng ta đến thành Giê-ru-sa-lem, thì anh em vui mừng tiếp rước.
18A ia la ae, hele pu aku la o Paulo me makou io Iakobo la; malaila no na lunakahiko a pau.
18Bữa sau, Phao-lô đi với chúng ta tới nhà Gia-cơ; có hết thảy các trưởng lão nhóm họp tại đó.
19Honi aku la oia ia lakou, hai pakahi aku la ia i na mea a pau a ke Akua i hana'i i ko na aina e, ma kana oihana.
19Phao-lô chào mừng các người đó rồi, bèn thuật lại từng điều mọi sự Đức Chúa Trời đã bởi chức vụ mình làm ra trong người ngoại.
20A i ko lakou lohe ana, hoomaikai aku lakou i ke Akua, i mai la ia ia, E ke kaikaina, ke ike nei oe i ka nui o na umi tausani o na Indaio i manaoio; ua ikaika loa lakou a pau ma ke kanawai.
20Các người ấy nghe vậy thì ngợi khen Đức Chúa Trời. Đoạn, nói cùng người rằng: Anh ơi, anh thấy biết mấy vạn người Giu-đa đã tin, và hết thảy đều sốt sắng về luật pháp.
21Ua lohe lakou nou, ua ao aku oe i na Iudaio a pau ma na aina e, e haalele i ke kanawai o Mose, a ua papa aku i ke okipoepoe ana i na keiki, aole hoi e hele ma ia aoao.
21Vả, chúng đã hay rằng anh dạy các người Giu-đa ở trong các dân ngoại rằng phải từ bỏ Môi-se, chớ nên làm phép cắt bì cho con mình, hay là ăn ở theo thói tục mình nữa.
22Heaha la hoi? E akoakoa io mai no ka ahakanaka; no ka mea, e lohe auanei lakou i kou hiki ana mai.
22Vậy, khá lo liệu làm sao? Chắc rằng dân chúng sẽ nhóm lại; vì hẳn sẽ biết rằng anh đã tới rồi.
23Nolaila, e hana oe i keia a makou e olelo aku ai ia oe. Eia no ia makou na kanaka eha, ua hoohiki lakou.
23Nên, hãy làm theo như chúng tôi sẽ nói cho anh: Chúng tôi đây có bốn người đều mắc lời thề;
24E lawe ae ia lakou, a e huikala ia oe iho me lakou, a e hui pu me lakou ma ka waiwai makana, i amu lakou i na poo; i ike na mea a pau, he mea ole keia mau mea a lakou i lohe ai nou; aka, ua hele pololei oe, ua malama hoi i ke kanawai.
24hãy đem bốn người đó cùng đi, làm lễ tinh sạch cho mình luôn với họ, và hãy chịu tiền họ phải trả để cạo đầu. Vậy thì ai nấy sẽ biết mọi tin đồn về anh đều chẳng thật, song rõ anh cũng ăn ở theo luật pháp vậy.
25I ka poe manaoio no na aina e, ua palapala makou i ka mea a kakou i manao ai, aole lakou e malama i keia mau mea, eia wale no, e hookaaokoa lakou i ko na akua e, a me ke koko, a me na mea i umi wale ia, a me ka moe kolohe.
25Còn người ngoại đã tin, chúng tôi có viết thơ cho họ về điều chúng tôi đã định: là chỉ phải kiêng ăn của cúng thần tượng, huyết và thú vật chết ngột, cùng chớ gian dâm.
26Alaila lawe ae la o Paulo i ua mau kanaka la, a ia la ae, huikala pu ae la kela ia ia iho me lakou, a komo aku la i ka luakini, e hoike aku i ka malama ana o na la huikala, a hiki i ka wa e haawiia'ku ai ka mohai, no kela mea keia mea o lakou.
26Phao-lô bèn đem bốn người cùng đi, vừa đến ngày sau, làm lễ tinh sạch cùng họ, rồi vào trong đền thờ, đặng tỏ ra ngày nào kỳ tinh sạch sẽ trọn, và dâng của lễ về mỗi người trong bọn mình.
27A kokoke e pau kela mau la ehiku, ike ae la ka poe Iudaio no Asia ia ia, maloko o ka luakini, hoohaunaele ae la lakou i ka lehulehu, a hopu iho la ko lakou lima ia ia,
27Khi bảy ngày gần trọn, thì các người Giu-đa, quê A-si, thấy Phao-lô trong đền thờ, bèn xui cả đoàn dân dấy loạn, rồi bắt người,
28Kahea aku la lakou, E na kanaka o ka Iseraela, e alu. Eia ke kanaka nana i ao aku i kanaka a pau mai o a o i ka mea ku e i kanaka, a me ke kanawai, a me keia wahi; a lawe mai no hoi ia i mau Helene maloko o ka luakini, a ua hoohaumia i keia wahi hemolele.
28mà kêu lên rằng: Hỡi các người Y-sơ-ra-ên, hãy đến giúp với! Kìa, người nầy giảng dạy khắp thiên hạ, nghịch cùng dân, nghịch cùng luật pháp, và nghịch cùng chốn nầy nữa, đến đỗi hắn dẫn người Gờ-réc vào trong đền thờ, và làm cho nơi thánh nầy bị ô uế.
29(No ka mea, ua ike mua lakou me ia maloko o ke kulanakauhale, ia Teropima, no Epeso, kuhi iho la lakou ua kai mai o Paulo ia ia maloko o ka luakini.)
29Số là, chúng trước đã thấy Trô-phim, người Ê-phê-sô, ở với Phao-lô tại trong thành phố, nên ngờ rằng Phao-lô đã dẫn người vào đền thờ.
30Ua pioloke ke kulanakauhale a pau, holo kiki mai la na kanaka a pau; hopu mai la lakou ia Paulo, kauo aku la lakou ia ia mawaho o ka luakini; papani koke iho la i na puka.
30Cả thành đều xôn xao, dân chúng chạy nhóm lại đoàn đông, bắt Phao-lô, kéo ra khỏi đền thờ, tức thì các cửa đều đóng lại.
31I ko lakou imi ana e pepehi ia ia, lohe aku la ka lunatausani koa, ua haunaele o Ierusalema a pau;
31Chúng đang tìm phương giết người, thì tiếng đồn đến quan quản cơ rằng cả thành Giê-ru-sa-lem đều xôn xao.
32A lawe koke ae la ia i na koa, a me na lunahaneri, a holo kiki aku la io lakou la: a ike mai lakou i ua lunatausani la, a me na koa, oki ae la ko lakou pepehi ana ia Paulo.
32Người lập tức bắt quân lính và cai đội kéo đến nơi chúng. Vừa thấy quản cơ và quân lính thì chúng thôi, không đánh Phao-lô nữa.
33A hiki mai ua lunatausani la, hopu mai la ia ia, a kauoha aku la e paa ia i na kaulahao elua; ninau mai la, Owai keia? Heaha ka mea ana i hana'i?
33Quản cơ bèn tới gần, bắt người rồi truyền lấy hai cái xích xích lại; đoạn, hỏi người là ai, và đã làm việc gì.
34Uwauwa aku la kekahi i kekahi mea, a o kekahi i kekahi mea, iwaena o ka ahakanaka. Aole i hiki ia ia ke ike i ka oiaio, no ka haunaele, kauoha aku la ia, e alakai ia ia maloko o ka pakaua.
34Trong đoàn dân, kẻ reo lên thể nầy, người la lên thể khác; nhân sự rối loạn, người không biết được chắc, nên dạy điệu về đồn.
35Aia ia iluna o na anuu, kaikaiia'ka la ia e na koa, no ka anehenehe o ua ahakanaka la.
35Lúc Phao-lô bước lên thềm, quân lính phải khiêng người đi, bởi cớ đoàn dân hung bạo lắm.
36No ka mea, hahai aku la ka ahakanaka, uwauwa aku la, E, e kai aku ia ia.
36Vì có đám dân theo sau đông mà kêu rằng: Hãy giết đi!
37A kokoke kaiia iloko o ka pakaua, i aku la o Paulo i ka lunatausani, E pono anei ia'u ke olelo aku ia oe? I mai la kela, Ua ike anei oe i ka ololo Helene?
37Lúc Phao-lô vào đồn, thì nói với quản cơ rằng: Tôi có phép nói với ông đôi điều chăng? Quản cơ trả lời rằng: Ngươi biết nói tiếng Gờ-réc sao?
38Aole anei oe ka Aigupita, i ku iluna i na la mamua aku nei, a alakai ai i na kanaka eha tausani ma ka waonahele, he poe powa?
38Vậy thì ngươi hẳn chẳng phải là người Ê-díp-tô kia, ngày trước đã gây loạn, kéo bốn ngàn kẻ cướp vào nơi đồng vắng hay sao?
39I mai la o Paulo, He kanaka Iudaio no wau, no Tareso i Kilikia, he kamaaina wau no kekahi kulanakauhale kaulana; ke nonoi aku nei au ia oe e ae mai ia'u e olelo aku i kanaka.
39Phao-lô trả lời rằng: Tôi là người Giu-đa, vốn ở thành Tạt-sơ, công dân của một thành trong xứ Si-li-si tức là thành có danh tiếng; xin hãy cho phép tôi nói với chúng dân.
40Ae mai la no kela; alaila, ku mai la o Paulo ma na anuu, peahi mai la ka lima i kanaka; hooneoneo nui iho la, olelo mai la ia ma ka olelo Hebera, i mai la,
40Được phép rồi, Phao-lô đứng trên thềm, giơ tay ra dấu cho dân. Đâu đó yên lặng, người bèn nói tiếng Hê-bơ-rơ mà rằng:
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.