Oihana 11
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
Vietnamese Bible (1923 translation)
1A LOHE iho la na lunaolelo, a me na hoahanau e noho ana ma Iudea, i ka loaa ana o ka olelo a ke Akua i ko na aina e;
1Các sứ đồ và anh em ở xứ Giu-đê nghe tin người ngoại cũng đã nhận lấy đạo Đức Chúa Trời.
2A pii aku la a Petero i Ierusalema, o ka poe ma ke okipoepoe ana, koopaapaa mai la lakou ia ia,
2Khi Phi-e-rơ đã trở lên thành Giê-ru-sa-lem, có người tín đồ vốn chịu phép cắt bì trách móc người,
3I mai la, ua hele ka oe i ka poe okipoepoe ole ia, a ua ai pu oe me lakou.
3rằng: Ngươi đã vào nhà kẻ chưa chịu phép cắt-bì, và ăn chung với họ!
4Hoomaka iho la o Petero, ma ke kumu, a hoakaka mai la ia lakou, i mai la,
4Nhưng Phi-e-rơ đem mọi sự đã qua thuật cho họ theo thứ tự và từng điều,
5I kuu pule ana ma ke kulanakauhale ma lope, hihioia iho la wau, ike aku la au ma ke akaku, i ka iho ana mai o kekahi puolo, ua like me ke kuina nui i huiia na kihi eha; i kuuia mai ka lani mai, a kiki mai ia'u.
5rằng: Ta đang cầu nguyện trong thành Giốp-bê, lúc đó ta bị ngất trí đi, thấy sự hiện thấy: có vật gì giống như cái khăn lớn, níu bốn chéo lên, từ trên trời sa xuống đến tận ta.
6Haka pono aku la wau ia mea, noonoo iho la, a ike aku la i na holoholona wawae eha o ka honua, a me na mea hihiu, a me na mea kolo, a me na manu o ka lewa.
6Ta xem xét kỹ càng, thấy trong đó có các loài thú bốn cẳng trên đất, các thú rừng, các côn trùng và các loài chim trên trời.
7A lohe aku la au i ka leo i ka i ana mai ia'u, E Petero; e ala, e pepehi, a ai.
7Ta lại nghe có tiếng phán rằng: Hỡi Phi-e-rơ, hãy chờ dậy, giết thịt và ăn.
8I aku la au, E ka Haku, aole loa pela; no ka mea aole i komo iloko o ko'u waha kekahi mea pouo ole, a i haumia.
8Ta thưa rằng: Lạy Chúa, chẳng vậy; vì không bao giờ có vật chi dơ dáy hay chẳng sạch vào miệng tôi đâu.
9I mai ua leo la ia'u, o ka lua ia, mai ka lani mai, O ka mea i huikalaia e ke Akua, mai kapa aku oe, he pono ole.
9Tiếng từ trời phán cùng ta lần thứ hai mà rằng: Chớ coi điều Chúa đã làm cho tinh sạch như là dơ dáy.
10Ekolu haua ana mai pela; a huki hou ia'ku la na mea a pau iluna i ka lani.
10Lời đó lặp lại ba lần, đoạn, thay thảy đều thâu lại lên trời.
11Aia hoi, hiki koke mai la na kanaka ekolu, ma ka hale a'u i noho ai, ua hoounaia mai ia'u, mai Kaisareia mai.
11Kìa, cũng một lúc đó, ba người ở thành Sê-sa-rê chịu sai đến cùng ta, đã tới tận cửa nhà ta ở.
12I mai la ka Uhane ia'u, e hele pu me lakou, me ke kanalua ole. Hele pu aku la keia mau hoahanau eono me au, a komo aku la makou iloko o ka hale o ua kanaka la:
12Đức Thánh Linh truyền cho ta phải đi với ba người ấy, đừng nghi ngại gì. Nầy, sáu người anh em đây đồng đi với ta, và chúng ta đều vào trong nhà Cọt-nây.
13Hai mai la oia ia makou i kona ike ana i ka auela, maloko o kona hale, ku mai la ia, i mai ia ia, E hoouna aku oe i kanaka i Iope, e kii ia Simona i kapaia o Petero:
13Người nầy thuật lại cho ta thể nào tại nhà mình đã thấy một thiên sứ hiện đến và phán rằng: Hãy sai tới thành Giốp-bê, mời Si-môn cũng gọi là Phi-e-rơ đến đây.
14Nana no e hai mai ia oe na olelo, na mea e ola'i oe, a me kou poe ohua a pau.
14Người ấy sẽ nói cho ngươi những lời, mà nhờ đó, ngươi và cả nhà mình sẽ được cứu rỗi.
15A i ko'u hoomaka ana e olelo aku, haule mai ka Uhane Hemolele iluna iho o lakou, e like me kakou i kinohou.
15Ta mới khởi sự nói, thì có Đức Thánh Linh giáng trên họ, cũng như ban đầu Ngài đã giáng trên chúng ta.
16Hoomanao iho la au i ka olelo a ka Haku, ana i olelo mai ai, Bapetizo no o Ioane me ka wai; aka, e bapetizoia auanei oukou i ka Uhane Hemolele.
16Ta bèn nhớ lại lời Chúa đã truyền rằng: Giăng đã làm phép báp-tem bằng nước; nhưng các ngươi sẽ chịu phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh.
17A ina haawi mai ke Akua i ka makana na lakou, e like me kakou, ka poe i manaoio aku i ka Haku ia Iesu Kristo, he mea aha la wau e hiki ai ia'u ke hoole aku i ke Akua?
17Vậy, nếu Đức Chúa Trời đã ban cho họ cũng một ơn như cho chúng ta, là kẻ đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ, thì ta là ai, mà ngăn trở Đức Chúa Trời được?
18A lohe lakou i keia mau mea, pilipu iho la lakou, a hoonani aku la i ke Akua, i ae la, Oiaio no, ua haawi mai no ke Akua i ko na aina e kekahi i ka mihi e ola'i.
18Tín đồ nghe bấy nhiêu lời xong, đều thỏa thuận và ngợi khen Đức Chúa Trời, rằng: Vậy Đức Chúa Trời cũng đã ban sự ăn năn cho người ngoại để họ được sự sống!
19Nolaila, o ka poe i hoopuehuia i ka hoomaau ana i puka mai no Setepano, helo no lakou a hiki i Poinike, a i Kupero, a i Anetioka, e hai aku ana i ka olelo i na Iudaio wale no.
19Những kẻ bị tản lạc bởi sự bắt bớ xảy đến về dịp Ê-tiên, bèn đi đến xứ Phê-ni-xi, đảo Chíp-rơ và thành An-ti-ốt, chỉ giảng đạo cho người Giu-đa thôi.
20Kekahi poe o lakou, he mau kanaka no Kupero a no Kurenaio kekahi, a hiki lakou i Anetioka, ao mai la lakou i ko Helene, e hai mai ana i ka euanelio o ka Haku o Iesu.
20Nhưng trong đám những người ấy có một vài người quê ở Chíp-rơ và Sy-ren đến thành An-ti-ốt, cũng giảng dạy cho người Gờ-réc nữa, truyền Tin Lành của Đức Chúa Jêsus cho họ.
21O ka lima pu o ka Haku kekahi me lakou; nui loa iho la ka poe i manaoio aku, a huli i ka Haku.
21Tay Chúa ở cùng mấy người đó, nên số người tin và trở lại cùng Chúa rất nhiều.
22Kaulana aku la ia mea a hiki i na pepeiao o ka ekalesia ma Ierusalema; hoouna ae la lakou ia Barenaba e hele i Anetioka.
22Tiếng đồn thấu tai Hội thánh Giê-ru-sa-lem, hội bèn sai Ba-na-ba sang đến thành An-ti-ốt.
23A hiki ae la ia, a ike ae la i ka hoomaikaiia e ke Akua, olioli iho la ia, a hooikaika mai la oia ia lakou a pau, e hoopili lakou i ka Haku me ka manao ikaika o ka naau.
23Khi người đến nơi và thấy ơn Đức Chúa Trời, bèn vui mừng và khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa;
24No ka mea, he kanaka maikai ia, ua piha hoi i ka Uhane Hemolele, a me ka manaoio; a nui loa ae la ka poe i huiia ma ka Haku.
24vì Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin. Bấy giờ rất đông người tin theo Chúa.
25Alaila hele aku la o Barenaba i Tareso, e imi ia Saulo:
25Kế đó, Ba-na-ba đi đến thành Tạt-sơ, để tìm Sau-lơ,
26A loaa iho la, alakai mai la ia ia i Anetioka. A puui no ko laua makahiki malaila, e hoakoakoa ana me ka ekalesia, a ao mai la i kanaka, he nui loa. Ma Anetioka i kapa mua ia mai ai na haumana, o na Kristiano.
26tìm gặp rồi, bèn đưa đến thành An-ti-ốt. Trọn một năm, hai người cùng nhóm với Hội-thánh và dạy dỗ nhiều người. Aáy là ở thành An-ti-ốt, người ta bắt đầu xưng môn đồ là Cơ-rê-tiên.
27Ia mau La hele mai la kekahi mau kaula, mai Ierusalema mai a Anetioka.
27Trong những ngày đó, có mấy người tiên tri từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành An-ti-ốt.
28Ku mai la kekahi o lakou, o Agabo kona inoa, hoike mai la, ma ka Uhane, he wi nui e hiki mai ana ma na aina a pau; a hiki io mai no i ke au ia Kelaudio Kaisara.
28Trong bọn có một người tên là A-ga-bút đứng dậy, bởi Đức Thánh Linh nói tiên tri rằng sẽ có sự đói kém trên khắp đất; thật vậy, sự đói kém nầy xảy đến trong đời Cơ-lốt trị vì.
29Alaila paa ka manao o na haumana, o kela mea keia mea e like me kona pono, e hoouka aku i ka manawalea na ka poe hoahanau i noho ma Iudea.
29Các môn đồ bèn định, mỗi người tùy sức riêng mình, gởi một món tiền bố thí cho anh em ở trong xứ Giu-đê;
30A hana io no hoi lakou ia mea, a hoouka aku la na ka poe lunakahiko, ma ka lima o Barenaba laua o Saulo.
30môn đồ cũng làm thành việc đó, nhờ tay Ba-na-ba và Sau-lơ, gởi tiền ấy cho các trưởng lão.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.