Xa 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Hỡi Li-ban, khá mở các cửa ngươi, cho lửa thiêu nuốt những cây bá hương ngươi!
1Відчиняй, Ливане, ворота твої, й нехай пожирає огонь кедри твої.
2Hỡi cây thông, hãy kêu la! vì cây bá hương đã ngã, những cây tốt đẹp đã bị hủy phá. Hỡi cây dẽ ở Ba-san, khá kêu la, vì rừng rậm đã bị chặt.
2Голоси, кипарисе; бо впаде кедр, бо й великі будуть спустошені; голосїте, дуби Базанські, бо повадиться гай ненроходний.
3Có tiếng than khóc của những kẻ chăn chiên! vì sự vinh hiển của chúng nó đã bị hủy phá; có tiếng gầm thét của những sư tử con! vì sự kiêu ngạo của Giô-đanh đã bị tồi tàn.
3Чути голос ридання пастухів, бо спустошено бажанне їх; чути рик левчуків, бо спустошено красу Йорданї.
4Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta phán như vầy: Hãy cho những con chiên sắp giết ăn cỏ;
4Так говорить Господь, Бог мій: Паси вівці, призначені на заріз,
5những kẻ mua nó giết đi, chẳng lấy làm phạm tội; còn kẻ bán thì nói rằng: Đức Giê-hô-va đáng ngợi khen, vì ta giàu có; và trong những kẻ chăn chẳng một người nào tiếc chúng nó.
5Що їх купивші вбивають безкарно, а продававші мовляють: Слава тобі, Господи; я збагатився! а пастухи не жалують їх.
6Đức Giê-hô-va phán: Vì ta chẳng tiếc dân cư đất nầy nữa; nhưng, nầy, ta sẽ phó ai nấy vào trong tay kẻ lân cận mình, và trong tay vua mình; chúng nó sẽ đánh đất, và ta sẽ không giải cứu khỏi tay chúng nó đâu.
6Та й я вже не жалувати му сих землян, говорить Господь; і ось, я оддам людей, кожного в руки ближнього його й на поталу цареві його, й побивати муть вони країну, та й нікого не визволю із їх потали.
7Vậy ta cho những chiên sắp giết ăn cỏ, là những chiên rất khốn nạn trong bầy. Đoạn, ta lấy hai cây gậy: một cây gọi là Tốt đẹp, một cây gọi là Dây buộc; và ta cho bầy chiên ăn.
7І буду пасти вівцї, призначені на заріз, — бідолашню отару. І возьму собі дві палиці; одну назву ласкавість, а другу — повязь, і буду пасти ними вівцї.
8Chỉ trong một tháng ta diệt mất ba kẻ chăn, vì linh hồn ta đã nhàm chúng nó, và linh hồn chúng nó cũng chán ta.
8І занапащу трьох пастухів в один місяць, бо відвернеться душа моя од них, як се й їх душа одвертається від мене.
9Ta bèn nói rằng: Ta sẽ không chăn bay. Con nào chết, chết đi; con nào mất, mất đi; còn những con nào sót lại thì con nầy ăn thịt con kia.
9І скажу тоді: Не буду більш пасти вас: що вмірає, нехай умірае; що погибае, нехай погибае, а що зостається, нехай одно одного зʼїдав.
10Đoạn, ta lấy gậy ta gọi là Tốt đẹp mà chặt nó ra từng khúc, đặng dứt lời giao ước mà ta đã kết với hết thảy các dân.
10І возьму мою палицю — ласкавості — та й поламлю її, щоб розвязати вмову, що вчинив був із усіма народами.
11Nó bị dứt trong ngày đó; vậy thì những con chiên rất khốn nạn trong bầy, là chiên nghe theo ta, biết rằng ấy là lời của Đức Giê-hô-va.
11І буде розвязана вона того ж дня, а тоді зрозуміють бідолашні вівцї, що мене визирали, що се було слово Господнє.
12Ta nói cùng chúng nó rằng: Nếu các ngươi lấy làm tốt, thì hãy cho tiền công ta; bằng không thì đừng cho. Chúng nó bèn cân tiền công cho ta, là ba chục miếng bạc.
12Тодї скажу їм: Коли ваша ласка, дайте менї плату мою; а коли нї, так не давайте; а вони одважать плату менї — трийцять срібних.
13Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy lấy giá tốt mà chúng nó định cho ta đó, đem quăng cho thợ gốm! Ta bèn lấy ba chục miếng bạc mà quăng cho thợ gốm tại trong nhà Đức Giê-hô-va.
13Господь же заповів менї: Вкинь їх в храмову скарбівню; — та й висока ж бо ціна, за яку мене оцїнили! І взяв я трийцять срібних та й укинув у храму Господньому про ганчаря.
14Rồi ta chặt gậy thứ hai của ta, gọi là Dây buộc, đặng dứt tình anh em giữa Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
14Тодї поламав я й другу палицю — повязь, щоб розірвати братерства між Юдою й Ізраїлем.
15Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy lấy khí vật của kẻ chăn dại dột cho ngươi.
15І знов сказав мені Господь: Возьми ж тепер собі знаряд у одного дурного пастуха:
16Vì nầy, ta sẽ dấy lên một kẻ chăn trong đất nầy, kẻ ấy sẽ chẳng thăm viếng chiên bị mất, chẳng tìm kiếm chiên tản lạc, không chữa con nào bị thương, không nuôi con nào mập mạnh; song nó ăn thịt con rất mập, và xé móng chúng nó.
16Ось бо, я поставлю в землі сїй пастуха, що байдуже йому пропадаючі, що заблуканих не буде шукати, нї хорих лїчити, та й здорових не буде кормити, а їсти ме тілько мясиво ситих, ба й ратицї в них одривати.
17Khốn thay cho kẻ chăn vô ích bỏ bầy mình! Gươm sẽ ở trên cánh tay nó, và trên con mắt hữu nó; cánh tay nó sẽ khô cả, và con mắt hữu nó sẽ mù cả.
17Горе ж ледачому пастухові, що покидає стадо! Меч на руку його й на праве око його! О, рука йому зовсїм усохне, а праве око його зовсїм ослїпне!
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.