Xa 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hỡi Li-ban, khá mở các cửa ngươi, cho lửa thiêu nuốt những cây bá hương ngươi!
1Aw Lebanon, nang ih Sidar thing hmai mah kang hanah, nangmah ih khongkha to paong ah.
2Hỡi cây thông, hãy kêu la! vì cây bá hương đã ngã, những cây tốt đẹp đã bị hủy phá. Hỡi cây dẽ ở Ba-san, khá kêu la, vì rừng rậm đã bị chặt.
2Sidar thingkung loe amtim boeh pongah, Aw hmaica thing, qah ah; kahoih thingnawk loe amtim o boih boeh; Bashan ih kamtak oak thingnawk, qah oh; tu thung ih thingnawk loe pahum o boih boeh.
3Có tiếng than khóc của những kẻ chăn chiên! vì sự vinh hiển của chúng nó đã bị hủy phá; có tiếng gầm thét của những sư tử con! vì sự kiêu ngạo của Giô-đanh đã bị tồi tàn.
3Nihcae lensawkhaih to amro boih boeh pongah, tuutoep kaminawk ih qahhaih lok to oh: Jordan amoekhaih loe amro boeh pongah, kaipui hanghaih lok to oh.
4Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta phán như vầy: Hãy cho những con chiên sắp giết ăn cỏ;
4Ka Angraeng Sithaw mah, hum han kaom tuu to pacah ah;
5những kẻ mua nó giết đi, chẳng lấy làm phạm tội; còn kẻ bán thì nói rằng: Đức Giê-hô-va đáng ngợi khen, vì ta giàu có; và trong những kẻ chăn chẳng một người nào tiếc chúng nó.
5Tawnkung mah tuunawk to boh naah, danpaekhaih tidoeh om ai: tuu zaw kaminawk mah, Angraeng loe tahamhoihaih om nasoe, kai loe angraeng boeh, tiah thuih o: tuutoep kaminawk loe tuunawk to tahmen ai.
6Đức Giê-hô-va phán: Vì ta chẳng tiếc dân cư đất nầy nữa; nhưng, nầy, ta sẽ phó ai nấy vào trong tay kẻ lân cận mình, và trong tay vua mình; chúng nó sẽ đánh đất, và ta sẽ không giải cứu khỏi tay chúng nó đâu.
6Prae thungah kaom kaminawk tahmenhaih ka tawn mak ai boeh, tiah Angraeng mah thuih: toe, khenah, kami boih angmacae taengah kaom kaminawk khaeah ka paek han, angmacae siangpahrang ban ah ka paek han: nihcae mah prae to tuh o tih, to naah nihcae ban thung hoi ka pahlong mak ai.
7Vậy ta cho những chiên sắp giết ăn cỏ, là những chiên rất khốn nạn trong bầy. Đoạn, ta lấy hai cây gậy: một cây gọi là Tốt đẹp, một cây gọi là Dây buộc; và ta cho bầy chiên ăn.
7To pongah nang kamtang tuu, hum han kaom tuu to ka pacah han. Tuu toephaih cung hnetto ka lak, maeto loe Kranghoih, tiah ahmin ka paek, kalah maeto loe zaenghaih qui, tiah ka kawk; tuu to ka pacah.
8Chỉ trong một tháng ta diệt mất ba kẻ chăn, vì linh hồn ta đã nhàm chúng nó, và linh hồn chúng nó cũng chán ta.
8Khrahto thungah tuutoep kami thumto kang haksak; ka hinghaih mah nihcae to hnukma, nihcae hinghaih mah doeh kai to hnukma o toeng.
9Ta bèn nói rằng: Ta sẽ không chăn bay. Con nào chết, chết đi; con nào mất, mất đi; còn những con nào sót lại thì con nầy ăn thịt con kia.
9To pacoengah kai mah, Nangcae kang pacah o mak ai boeh, kadueh kami loe, dueh nasoe; anghma kami loe anghma nasoe; anghmat kaminawk loe maeto hoi maeto ih ngan to caa o nasoe, tiah ka naa.
10Đoạn, ta lấy gậy ta gọi là Tốt đẹp mà chặt nó ra từng khúc, đặng dứt lời giao ước mà ta đã kết với hết thảy các dân.
10To naah prae kaminawk boih hoi ka sak ih lokmaihaih to ka lak let thai hanah, Kranghoih cunghet to, ka lak moe, ka khaeh lawt.
11Nó bị dứt trong ngày đó; vậy thì những con chiên rất khốn nạn trong bầy, là chiên nghe theo ta, biết rằng ấy là lời của Đức Giê-hô-va.
11To na niah angkhaeh lawt; to pongah kai kazing amtang tuutoep kaminawk mah, hae loe Angraeng ih lok ni, tiah panoek o.
12Ta nói cùng chúng nó rằng: Nếu các ngươi lấy làm tốt, thì hãy cho tiền công ta; bằng không thì đừng cho. Chúng nó bèn cân tiền công cho ta, là ba chục miếng bạc.
12Kai mah nihcae khaeah, Kahoih hmuen na poek o nahaeloe, ka toksakhaih atho to na paek oh; toe to tiah na poek o ai nahaeloe, na paek o hmah, tiah ka naa. To pongah nihcae mah kai hanah sum kanglung phoisa qui thumto ang noek pae o.
13Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy lấy giá tốt mà chúng nó định cho ta đó, đem quăng cho thợ gốm! Ta bèn lấy ba chục miếng bạc mà quăng cho thợ gốm tại trong nhà Đức Giê-hô-va.
13To naah Angraeng mah kai khaeah, Nihcae mah kai han katingah ang paek o ih atho to long laom sahkung khaeah va ah, tiah ang naa. To pongah sum kanglung phoisa qui thumto ka lak moe, Angraeng imthung ih long laom sah kami khaeah ka vah.
14Rồi ta chặt gậy thứ hai của ta, gọi là Dây buộc, đặng dứt tình anh em giữa Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
14To pacoengah zaenghaih qui, tiah kawk ih kalah cung to ka khaeh moe, Judah hoi Israel nawkamya ah ohhaih to ka phraek.
15Đức Giê-hô-va phán cùng ta rằng: Hãy lấy khí vật của kẻ chăn dại dột cho ngươi.
15To naah Angraeng mah kai khaeah, kamthu tuutoep kami ih hmuennawk to la ah.
16Vì nầy, ta sẽ dấy lên một kẻ chăn trong đất nầy, kẻ ấy sẽ chẳng thăm viếng chiên bị mất, chẳng tìm kiếm chiên tản lạc, không chữa con nào bị thương, không nuôi con nào mập mạnh; song nó ăn thịt con rất mập, và xé móng chúng nó.
16Khenah, prae nuiah tuutoep kami maeto ka pacah han, anih loe anghma kaminawk to dawncang mak ai, tuucaanawk doeh pakrong mak ai, ahmaa kaca tuunawk doeh khenzawn mak ai ueloe, angdoe sut tuunawk doeh pacah mak ai: toe anih loe kathawk hruk tuu moi to caa tih, a khokpacin mataeng doeh amongh pae boih tih.
17Khốn thay cho kẻ chăn vô ích bỏ bầy mình! Gươm sẽ ở trên cánh tay nó, và trên con mắt hữu nó; cánh tay nó sẽ khô cả, và con mắt hữu nó sẽ mù cả.
17Tuucaa caehtaak tuutoep kami loe khosak bing! Sumsem mah a ban hoi bantang mik to takroek pae nasoe; a ban to angqo pae nasoe loe, a bantang mik to maeng pae nasoe, tiah a naa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.