Thi 107
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Londona Biblio (Esperanto, 1910)
1Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
1Gloru la Eternulon, ĉar Li estas bona; Ĉar eterna estas Lia boneco:
2Các người Đức Giê-hô-va đã chuộc Khỏi tay kẻ hà hiếp hãy nói điều đó,
2Diru la liberigitoj de la Eternulo, Kiujn Li liberigis el la mano de malamiko,
3Tức là các người Ngài đã hiệp lại từ các xứ; Từ phương đông, phương tây, phương bắc, phương nam.
3Kiujn Li kolektis el la landoj, De oriento kaj okcidento, De nordo kaj de la maro.
4Họ lưu lạc nơi đồng vắng, trong con đường hiu quạnh, Không tìm thành ở được;
4Ili vagis en la dezerto, laŭ vojo senviva, Urbon loĝatan ili ne trovis;
5Họ bị đói khát, Linh hồn bèn nao sờn trong mình họ.
5Ili malsatis kaj soifis, Ilia animo en ili senfortiĝis.
6Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan,
6Sed ili ekkriis al la Eternulo en sia sufero, Kaj Li liberigis ilin el ilia mizero.
7Dẫn họ theo đường ngay thẳng, Đặng đi đến một thành ở được.
7Kaj Li kondukis ilin laŭ ĝusta vojo, Ke ili venu al urbo loĝata.
8Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!
8Ili gloru la Eternulon por Lia boneco, Kaj por Liaj mirakloj antaŭ la homidoj.
9Vì Ngài làm cho lòng khao khát được thỏa thích, Khiến cho hồn đói được đầy dẫy vật tốt.
9Ĉar Li satigis animon soifantan, Kaj animon malsatan Li plenigis per bonaĵo.
10Những kẻ ở trong tối tăm và bóng sự chết, Bị khốn khổ và xích sắt bắt buộc,
10Ili sidis en mallumo kaj en ombro de morto, Katenitaj de mizero kaj fero;
11Bởi vì đã bội nghịch lời Đức Chúa Trời, Và khinh dể sự khuyên dạy của Đấng Chí cao.
11Ĉar ili malobeis la vortojn de Dio Kaj malŝatis la decidon de la Plejaltulo.
12Nhân đó Ngài lấy sự lao khổ hạ lòng họ xuống; Họ vấp ngã không ai giúp đỡ.
12Kaj Li frapis ilian koron per sufero; Ili falis, kaj neniu helpis.
13Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan,
13Sed ili ekkriis al la Eternulo en sia sufero, Kaj Li liberigis ilin el ilia mizero.
14Rút họ khỏi sự tối tăm và bóng sự chết, Cũng bẻ gãy xiềng của họ.
14Li eligis ilin el mallumo kaj ombro de morto, Kaj iliajn ligilojn Li disŝiris.
15Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!
15Ili gloru la Eternulon por Lia boneco, Kaj por Liaj mirakloj antaŭ la homidoj.
16Vì Ngài đã phá cửa đồng, Và gãy các song sắt.
16Ĉar Li rompis kuprajn pordojn, Kaj disbatis ferajn riglilojn.
17Kẻ ngu dại bị khốn khổ Vì sự vi phạm và sự gian ác mình;
17La malsaĝuloj suferis pro siaj pekaj vojoj Kaj pro siaj krimoj;
18Lòng chúng nó gớm ghê các thứ đồ ăn; Họ đến gần cửa sự chết.
18Ĉiujn manĝojn abomenis ilia animo, Kaj ili atingis la pordegon de la morto.
19Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan.
19Sed ili ekkriis al la Eternulo en sia sufero, Kaj Li liberigis ilin el ilia mizero.
20Ngài ra lịnh chữa họ lành, Rút họ khỏi cái huyệt.
20Li sendis Sian vorton, Kaj Li sanigis ilin kaj savis ilin de la tombo.
21Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!
21Ili gloru la Eternulon por Lia boneco, Kaj por Liaj mirakloj antaŭ la homidoj.
22Nguyện chúng dâng của lễ thù ân, Lấy bài hát vui mừng mà thuật các công việc Ngài.
22Kaj ili oferdonu dankajn oferojn, Kaj rakontu Liajn farojn kun kantado.
23Có người đi xuống tàu trong biển, Và làm việc nơi nước cả;
23Kiuj veturas per ŝipoj sur la maro, Kiuj komercas sur grandaj akvoj,
24Kẻ ấy thấy công việc Đức Giê-hô-va, Xem phép lạ Ngài trong nước sâu.
24Tiuj vidis la farojn de la Eternulo Kaj Liajn miraklojn en la profundo.
25Ngài biểu, bèn có trận gió bão, Nổi các lượn sóng lên.
25Li diris, kaj aperis granda ventego Kaj alte levis ĝiajn ondojn:
26Đưa cao đến các từng trời, rồi hụp xuống tới vực sâu: Lòng họ tiêu tan vì khốn khổ.
26Ili leviĝas ĝis la ĉielo, malleviĝas en la abismojn; Ilia animo konsumiĝas de sufero;
27Họ choáng váng xiêu tó như một người say, Sự khôn ngoan họ đều mất hết.
27Ili iras ĉirkaŭe kaj ŝanceliĝas kiel ebriulo, Kaj ilia tuta saĝeco malaperas.
28Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan.
28Sed ili ekkriis al la Eternulo en sia sufero, Kaj Li eligis ilin el ilia mizero.
29Ngài ngừng bão-tố, đổi nó ra bình tịnh, Và sóng êm lặng.
29Li kvietigis la ventegon, Kaj ĝiaj ondoj silentiĝis.
30Họ bèn vui mừng vì sóng êm lặng; Chúa dẫn họ vào bến họ ước ao.
30Kaj ili ekĝojis, kiam fariĝis silente; Kaj Li alkondukis ilin al la dezirata haveno.
31Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người!
31Ili gloru la Eternulon por Lia boneco, Kaj por Liaj mirakloj antaŭ la homidoj.
32Người ta cũng hãy tôn cao Ngài trong hội dân sự, Và ngợi khen, Ngài tại nơi hiệp tập các trưởng lão.
32Kaj ili altigu Lin en popola kunveno, Kaj en kunsido de plejaĝuloj ili Lin laŭdu.
33Ngài đổi sông ra đồng vắng, Suối nước thành đất khô,
33Li ŝanĝas riverojn en dezerton, Kaj fontojn de akvo en sekaĵon;
34Và đất màu mỡ ra đất mặn, Vì cớ sự gian ác của dân ở tại đó.
34Fruktoportan teron en salan dezerton, Pro la malboneco de ĝiaj loĝantoj.
35Ngài biến đồng vắng thành ao nước, Đất khô ra những suối nước;
35Li ŝanĝas dezerton en lagon, Kaj sekan teron en fontojn de akvo;
36Ngài làm cho những kẻ đói được ở tại đó, Họ xây lập thành đặng ở.
36Kaj Li loĝigas tie malsatulojn, Kaj ili konstruas urbon loĝatan.
37Họ gieo ruộng và trồng nho, Ruộng và nho sanh bông trái.
37Kaj ili prisemas kampojn, Plantas vinberujojn, kaj ricevas fruktojn.
38Đức Chúa Trời ban phước cho họ đến đỗi họ sanh sản nhiều thêm; Ngài không để cho súc vật họ bị hao hớt.
38Kaj Li ilin benas, kaj ili tre multiĝas, Kaj brutoj ne mankas al ili.
39Họ lại bị hạ số và phải cực lòng Vì sự hà hiếp, sự gian nan, và sự buồn rầu.
39Kaj kiam ili estas tre malmultaj kaj malfortaj Pro la premanta malbono kaj mizero,
40Ngài đổ sự nhuốc nhơ trên vua chúa, Khiến họ phải lưu lạc trong nơi vắng vẻ không đường.
40Li verŝas honton sur eminentulojn, Kaj erarvagigas ilin en dezerto senvoja.
41Nhưng Ngài vớt kẻ thiếu thốn khỏi hoạn nạn, Làm cho người ấy được gia quyến đông như bầy chiên.
41Malriĉulon Li altigas el mizero, Kaj kreas familiojn kiel ŝafojn.
42Các người ngay thẳng sẽ thấy điều ấy, và vui vẻ, Còn các kẻ ác đều phải ngậm miệng lại.
42La virtuloj tion vidas, kaj ĝojas; Kaj ĉia malboneco fermas sian buŝon.
43Phàm kẻ nào khôn ngoan sẽ chú ý về điều nầy, Và suy gẫm sự nhân từ của Đức Giê-hô-va.
43Kiu estas saĝa, tiu tion observu, Kaj oni komprenu la favoraĵojn de la Eternulo.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.