Thi
Chapter 106
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Londona Biblio (Es…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Londona Biblio (Esperanto, 1910)
1Ha-lê-lu-gia! Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
1Haleluja! Gloru la Eternulon, ĉar Li estas bona; Ĉar eterna estas Lia boneco.
2Ai có thể thuật các công việc quyền năng của Đức Giê-hô-va, Truyền ra hết sự ngợi khen của Ngài?
2Kiu eldiros la potencon de la Eternulo, Aŭdigos Lian tutan gloron?
3Phước cho người nào gìn giữ sự đoan chánh, Và làm theo sự công bình luôn luôn!
3Bone estas al tiuj, kiuj observas justecon, Kiuj agas bone en ĉiu tempo.
4Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nhớ lại tôi tùy ơn Ngài làm cho dân sự Ngài; Hãy lấy sự cứu rỗi mà đến viếng tôi,
4Memoru min, ho Eternulo, pro favoro al Via popolo; Sendu al mi Vian savon,
5Hầu cho tôi thấy sự thới thạnh của kẻ được Ngài chọn, Hưởng sự vui vẻ của dân sự Ngài, Và được khoe mình với cơ nghiệp Ngài.
5Por ke mi vidu la bonstaton de Viaj elektitoj, Por ke mi ĝoju kun la ĝojo de Via popolo, Por ke mi triumfu kun Via heredo.
6Chúng tôi và tổ phụ chúng tôi đã phạm tội; Chúng tôi có phạm sự gian tà, và làm cách hung ác.
6Ni pekis kune kun niaj patroj, Ni malbonagis, ni malvirtis.
7Tại Ê-díp-tô tổ phụ chúng tôi không chăm chỉ về các phép lạ Chúa, Cũng chẳng nhớ lại sự nhân từ dư dật của Chúa; Nhưng lại phản nghịch bên biển, tức là Biển đỏ.
7Niaj patroj en Egiptujo ne komprenis Viajn miraklojn, Ne memoris Vian grandan bonecon; Kaj ili ribelis apud la maro, apud la Ruĝa Maro.
8Dầu vậy, Ngài cứu họ vì cớ danh Ngài, Hầu cho bày ra quyền năng của Ngài.
8Sed Li savis ilin pro Sia nomo, Por montri Sian potencon.
9Ngài quở Biển đỏ, nó bèn khô; Ngài dẫn Y-sơ-ra-ên đi ngang qua vực sâu như ngang đồng vắng.
9Kaj Li ekkriis al la Ruĝa Maro, kaj ĝi elsekiĝis; Kaj Li kondukis ilin tra la abismoj, kiel tra la dezerto.
10Ngài giải cứu họ khỏi tay kẻ ghen ghét, Chuộc họ khỏi tay kẻ thù nghịch.
10Kaj Li savis ilin el la mano de la malamanto, Kaj Li liberigis ilin en la mano de la malamiko.
11Nước chụp phủ những kẻ hà hiếp họ; Chẳng còn lại một người.
11Kaj la akvo kovris iliajn kontraŭulojn; Eĉ unu el ili ne restis.
12Bấy giờ họ mới tin lời của Ngài, Bèn hát ngợi khen Ngài.
12Tiam ili ekkredis al Liaj vortoj, Ili ekkantis Lian gloron.
13Họ lại mau mau quên các công việc Ngài, Không chờ đợi lời chỉ giáo Ngài,
13Sed baldaŭ ili forgesis Liajn farojn, Ili ne fidis Lian konsilon.
14Nhưng có lòng tham dục quá đỗi tại trong đồng vắng, Và thử Đức Chúa Trời nơi vắng vẻ.
14Ili fordonis sin al siaj kapricoj en la dezerto, Kaj ili incitis Dion en la stepo.
15Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó cầu xin; Nhưng sai bịnh tổn hại linh hồn chúng nó.
15Kaj Li plenumis ilian deziron, Sed Li sendis pereon al iliaj animoj.
16Trong trại quân họ ganh ghét Môi-se Và A-rôn, là người thánh của Đức Giê-hô-va.
16Ili enviis Moseon en la tendaro, Aaronon, sanktulon de la Eternulo.
17Đất hả ra nuốt Đa-than, Và lấp bọn A-bi-ran.
17Malfermiĝis la tero kaj englutis Datanon, Kaj kovris la anaron de Abiram.
18Có lửa phát cháy trong hội chúng nó, Ngọn lửa thiêu đốt những kẻ ác.
18Kaj ekbrulis fajro en ilia anaro, Flamo forbruligis la malvirtulojn.
19Tổ phụ tôi làm một bò tơ tại Hô-rếp, Thờ lạy trước mặt hình đúc;
19Ili faris bovidon ĉe Ĥoreb, Kaj adorkliniĝis antaŭ fandaĵo.
20Họ đổi sự vinh hiển mình Ra hình dạng con bò ăn cỏ.
20Ili ŝanĝis sian honoron En bildon de bovo, kiu manĝas herbon.
21Họ quên Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi mình, Và đã có làm công việc lớn lao ở Ê-díp-tô,
21Ili forgesis Dion, sian savanton, Kiu faris grandajn farojn en Egiptujo,
22Những việc lạ k” trong xứ Cham, Và các điều đáng kinh hãi ở bên Biển đỏ.
22Miraklojn en la lando de Ĥam, Timindaĵojn apud la Ruĝa Maro.
23Vì vậy, Ngài phán rằng sẽ diệt chúng nó đi; Nhưng Môi-se, là kẻ Ngài chọn, đứng nơi triệt hạ trước mặt Ngài, Đặng can gián cơn giận Ngài, e Ngài hủy diệt họ chăng.
23Kaj Li decidis ekstermi ilin; Sed Moseo, Lia elektito, stariĝis antaŭ Li ĉe la fendo, Por forklini Lian koleregon, ke Li ilin ne ekstermu.
24Tổ phụ chúng tôi khinh bỉ xứ tốt đẹp, Không tin lời của Chúa,
24Kaj ili malŝatis la dezirindan landon, Ili ne kredis al Lia vorto.
25Song nói lằm bằm trong trại mình, Không nghe tiếng Đức Giê-hô-va.
25Ili murmuris en siaj tendoj, Kaj ne aŭskultis la voĉon de la Eternulo.
26Vì vậy, Ngài thề cùng chúng nó rằng: Sẽ làm chúng nó sa ngã trong đồng vắng,
26Tial Li ĵuris al ili per levo de Sia mano, Por faligi ilin en la dezerto,
27Khiến dòng dõi họ sa ngã giữa muôn nước, Và làm tản lạc họ trong các xứ.
27Kaj por disfaligi ilian semon inter la popoloj, Kaj disĵeti ilin en la landojn.
28Tổ phụ chúng tôi cũng cúng thờ Ba-anh-Phê-ô, Aên của lễ cúng kẻ chết;
28Kaj ili aliĝis al Baal-Peor, Kaj manĝis oferricevojn de malvivuloj.
29Như vậy họ chọc giận Đức Chúa Trời vì những việc làm của họ, Và ôn dịch bèn phát ra giữa họ.
29Kaj ili kolerigis Lin per siaj faroj; Kaj disvastiĝis inter ili epidemio.
30Bấy giờ Phi-nê-a chỗi dậy đoán xét, Và ôn dịch bèn ngừng lại.
30Kaj stariĝis Pineĥas kaj aranĝis juĝon; Kaj la epidemio haltis.
31Từ đời nầy qua đời kia việc đó kể cho người là công bình, Cho đến đời đời vô cùng.
31Kaj tio estas kalkulita al li kiel bonfaro, Por ĉiuj generacioj kaj eterne.
32Tổ phụ chúng tôi cũng chọc giận Ngài tại nước Mê-ri-ba, Nên, vì cớ họ, có tai họa xảy đến cho Môi-se;
32Kaj ili kolerigis Lin ĉe la akvo de Meriba, Kaj pro ili fariĝis malbono al Moseo;
33Aáy vì họ chọc rối trí người, Nên người nói những lời vô-ý.
33Ĉar ili maldolĉigis lian spiriton, Kaj li eldiris ion nepripensitan per sia buŝo.
34Họ không hủy diệt các dân, Y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn họ;
34Ili ne ekstermis la popolojn, Pri kiuj diris al ili la Eternulo;
35Nhưng lại pha lộn với các dân, Tập theo công việc chúng nó,
35Sed ili miksiĝis kun la popoloj Kaj lernis iliajn farojn;
36Và hầu việc hình tượng chúng nó, Là điều gây làm cái bẫy cho mình.
36Ili servis al iliaj idoloj, Kaj ĉi tiuj fariĝis reto por ili.
37Họ bắt con trai con gái mình Mà cúng tế ma quỉ.
37Kaj ili oferdonis siajn filojn kaj filinojn al demonoj;
38Làm đổ huyết vô tội ra, Tức là huyết của con trai con gái mình, Mà họ cúng tế cho hình tượng xứ Ca-na-an; Nên xứ bị ô uế bởi huyết ấy.
38Kaj ili verŝis senkulpan sangon, la sangon de siaj filoj kaj filinoj, Kiujn ili oferportis al la Kanaanaj idoloj; Kaj la tero malpuriĝis de sango.
39Như vậy, họ làm cho mình bị ô uế vì công việc mình, Lấy sự làm mình mà thông dâm.
39Kaj ili malpuriĝis per siaj faroj, Kaj malĉastiĝis per siaj agoj.
40Nhân đó cơn giận Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự Ngài, Ngài gớm ghiếc cơ nghiệp mình;
40Kaj ekflamis la kolero de la Eternulo kontraŭ Lia popolo, Kaj Li abomenis Sian heredon;
41Ngài phó họ vào tay các ngoại bang; Những kẻ ghen ghét họ cai trị trên họ.
41Kaj Li donis ilin en la manojn de idolanoj, Kaj iliaj malamantoj ekregis super ili.
42Kẻ thù nghịch cũng hà hiếp tổ phụ chúng ta. Họ bị phục dưới tay chúng nó.
42Kaj premis ilin iliaj malamikoj, Kaj sub la manoj de ĉi tiuj ili humiliĝis.
43Nhiều lần Chúa giải cứu tổ phụ chúng ta, Nhưng họ phiền lòng Ngài bởi ý muốn họ, Và họ hèn mọn vì tội ác của họ.
43Multajn fojojn Li ilin savis; Sed ili ribeladis per siaj entreprenoj, Kaj ili senfortiĝis pro sia krimeco.
44Dầu vậy, khi nghe tiếng kêu cầu của họ, Ngài bèn đoái xem họ trong cơn gian truân họ,
44Sed Li ekrigardis ilian suferon, Kiam Li aŭdis ilian kriadon;
45Nhớ lại vì họ giao ước mình, Và thương xót họ tùy sự nhân từ dư dật của Ngài.
45Kaj Li rememoris Sian interligon kun ili, Kaj Li ekbedaŭris laŭ Sia granda favorkoreco;
46Ngài cũng làm cho họ được ơn Bên những kẻ bắt họ làm phu tù.
46Kaj Li aperigis kompaton por ili Ĉe ĉiuj iliaj malliberigintoj.
47Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời chúng tôi, xin hãy cứu chúng tôi, Nhóm hiệp chúng tôi từ giữa các nước, Hầu cho chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, úa, Và khoe mình về sự ngợ hen Chúaa.
47Savu nin, ho Eternulo, nia Dio, Kaj kolektu nin el inter la popoloj, Por glori Vian sanktan nomon, Por triumfi pro Via gloro.
48Đáng ngợi khen Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời mãi mãi! Cả dân sự khá nói: A-men! Ha-lê-lu-gia!
48Glorata estu la Eternulo, Dio de Izrael, de eterne ĝis eterne. Kaj la tuta popolo diru: Amen. Haleluja!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.