Thi
Chapter 106
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Petrus Canisius Bi…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)
1Ha-lê-lu-gia! Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
1Halleluja! Looft Jahweh, want Hij is goed En zijn genade duurt eeuwig!
2Ai có thể thuật các công việc quyền năng của Đức Giê-hô-va, Truyền ra hết sự ngợi khen của Ngài?
2Wie kan Jahweh’s machtige daden vermelden, En heel zijn glorie verkonden?
3Phước cho người nào gìn giữ sự đoan chánh, Và làm theo sự công bình luôn luôn!
3Gelukkig hij, die de wet onderhoudt, En altijd het goede blijft doen!
4Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nhớ lại tôi tùy ơn Ngài làm cho dân sự Ngài; Hãy lấy sự cứu rỗi mà đến viếng tôi,
4Wees ons indachtig, o Jahweh, Om uw liefde voor uw volk; Zoek ons op met uw heil,
5Hầu cho tôi thấy sự thới thạnh của kẻ được Ngài chọn, Hưởng sự vui vẻ của dân sự Ngài, Và được khoe mình với cơ nghiệp Ngài.
5Opdat wij het geluk uwer vrienden aanschouwen, Met uw blijde volk ons verblijden, Met uw erfdeel mogen roemen!
6Chúng tôi và tổ phụ chúng tôi đã phạm tội; Chúng tôi có phạm sự gian tà, và làm cách hung ác.
6Ach, wij hebben gezondigd met onze vaderen, Wij hebben misdreven en kwaad gedaan!
7Tại Ê-díp-tô tổ phụ chúng tôi không chăm chỉ về các phép lạ Chúa, Cũng chẳng nhớ lại sự nhân từ dư dật của Chúa; Nhưng lại phản nghịch bên biển, tức là Biển đỏ.
7Onze vaderen in Egypte Hebben al niet op uw wonderen gelet; En zonder aan uw talrijke gunsten te denken, Zich bij de Rode Zee tegen den Allerhoogste verzet!
8Dầu vậy, Ngài cứu họ vì cớ danh Ngài, Hầu cho bày ra quyền năng của Ngài.
8Toch redde Hij hen om wille van zijn Naam, En om zijn almacht te tonen:
9Ngài quở Biển đỏ, nó bèn khô; Ngài dẫn Y-sơ-ra-ên đi ngang qua vực sâu như ngang đồng vắng.
9Hij bedreigde de Rode Zee, ze liep droog, Hij leidde hen tussen de golven als door een uitgedroogd land.
10Ngài giải cứu họ khỏi tay kẻ ghen ghét, Chuộc họ khỏi tay kẻ thù nghịch.
10Hij redde hen uit de hand van hun haters, Verloste hen uit de macht van hun vijand;
11Nước chụp phủ những kẻ hà hiếp họ; Chẳng còn lại một người.
11De wateren spoelden over hun vijanden heen, En geen bleef er over!
12Bấy giờ họ mới tin lời của Ngài, Bèn hát ngợi khen Ngài.
12Toen sloegen ze geloof aan zijn woorden, En zongen zijn lof.
13Họ lại mau mau quên các công việc Ngài, Không chờ đợi lời chỉ giáo Ngài,
13Maar spoedig waren ze weer zijn werken vergeten, En wachtten zijn raadsbesluiten niet af;
14Nhưng có lòng tham dục quá đỗi tại trong đồng vắng, Và thử Đức Chúa Trời nơi vắng vẻ.
14Ze gaven zich in de woestijn aan hun gulzigheid over, En stelden God op de proef in de steppe.
15Ngài ban cho chúng nó điều chúng nó cầu xin; Nhưng sai bịnh tổn hại linh hồn chúng nó.
15Hij schonk hun wat ze Hem vroegen, Maar Hij liet ze er spoedig van walgen.
16Trong trại quân họ ganh ghét Môi-se Và A-rôn, là người thánh của Đức Giê-hô-va.
16Daarna werden ze in hun kamp afgunstig op Moses, En op Aäron, aan Jahweh gewijd.
17Đất hả ra nuốt Đa-than, Và lấp bọn A-bi-ran.
17Maar de aarde spleet open, zwolg Datan in, En bedolf de bent van Abiram;
18Có lửa phát cháy trong hội chúng nó, Ngọn lửa thiêu đốt những kẻ ác.
18Vuur verbrandde hun aanhang, Vlammen verteerden de bozen!
19Tổ phụ tôi làm một bò tơ tại Hô-rếp, Thờ lạy trước mặt hình đúc;
19Dan maakten ze een kalf bij de Horeb, En wierpen zich voor een afgietsel neer;
20Họ đổi sự vinh hiển mình Ra hình dạng con bò ăn cỏ.
20Ze verruilden hun Glorie Voor het beeld van een grasvretend rund.
21Họ quên Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi mình, Và đã có làm công việc lớn lao ở Ê-díp-tô,
21Ze vergaten God, hun Verlosser Die grote dingen in Egypte had gedaan,
22Những việc lạ k” trong xứ Cham, Và các điều đáng kinh hãi ở bên Biển đỏ.
22Wonderwerken in het land van Cham, Ontzaglijke daden bij de Rode Zee.
23Vì vậy, Ngài phán rằng sẽ diệt chúng nó đi; Nhưng Môi-se, là kẻ Ngài chọn, đứng nơi triệt hạ trước mặt Ngài, Đặng can gián cơn giận Ngài, e Ngài hủy diệt họ chăng.
23En zeker had Hij hun verdelging beslist, Als Moses, zijn geliefde, er niet was geweest; Maar deze stelde zich tegen Hem in de bres, Om Hem te weerhouden, hen in zijn toorn te vernielen.
24Tổ phụ chúng tôi khinh bỉ xứ tốt đẹp, Không tin lời của Chúa,
24Later versmaadden ze het heerlijke land, En sloegen geen geloof aan zijn woord;
25Song nói lằm bằm trong trại mình, Không nghe tiếng Đức Giê-hô-va.
25Ze begonnen in hun tenten te morren, En luisterden niet naar Jahweh’s stem.
26Vì vậy, Ngài thề cùng chúng nó rằng: Sẽ làm chúng nó sa ngã trong đồng vắng,
26Toen stak Hij zijn hand tegen hen op: Hij zou ze neerslaan in de woestijn,
27Khiến dòng dõi họ sa ngã giữa muôn nước, Và làm tản lạc họ trong các xứ.
27Hun zaad verstrooien onder de volken, Ze over vreemde landen verspreiden!
28Tổ phụ chúng tôi cũng cúng thờ Ba-anh-Phê-ô, Aên của lễ cúng kẻ chết;
28Dan weer koppelden ze zich aan Báal-Peor, En aten de offers van levenloze wezens;
29Như vậy họ chọc giận Đức Chúa Trời vì những việc làm của họ, Và ôn dịch bèn phát ra giữa họ.
29Ze tergden Hem door hun gedrag, Zodat er een slachting onder hen woedde.
30Bấy giờ Phi-nê-a chỗi dậy đoán xét, Và ôn dịch bèn ngừng lại.
30Toen trad Pinechas op, om de misdaad te wreken, En de slachting hield op;
31Từ đời nầy qua đời kia việc đó kể cho người là công bình, Cho đến đời đời vô cùng.
31Het werd hem tot verdienste gerekend, Van geslacht tot geslacht voor altijd.
32Tổ phụ chúng tôi cũng chọc giận Ngài tại nước Mê-ri-ba, Nên, vì cớ họ, có tai họa xảy đến cho Môi-se;
32Ook bij de wateren van Meriba hebben ze Hem getergd, En ging het Moses om hunnentwil slecht:
33Aáy vì họ chọc rối trí người, Nên người nói những lời vô-ý.
33Want ze hadden zijn stemming verbitterd, Zodat hem onbezonnen woorden ontsnapten.
34Họ không hủy diệt các dân, Y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn họ;
34Ook verdelgden ze de volkeren niet, Zoals Jahweh het hun had bevolen;
35Nhưng lại pha lộn với các dân, Tập theo công việc chúng nó,
35Maar ze vermengden zich met de heidenen, En leerden hun gewoonten aan:
36Và hầu việc hình tượng chúng nó, Là điều gây làm cái bẫy cho mình.
36Ze vereerden hun beelden, en die werden hun strik;
37Họ bắt con trai con gái mình Mà cúng tế ma quỉ.
37Ze brachten hun zonen en dochters aan de goden ten offer;
38Làm đổ huyết vô tội ra, Tức là huyết của con trai con gái mình, Mà họ cúng tế cho hình tượng xứ Ca-na-an; Nên xứ bị ô uế bởi huyết ấy.
38Ze gingen onschuldig bloed vergieten, Het bloed van hun zonen en dochters; Ze offerden het aan de beelden van Kanaän, En het land werd door hun bloedschuld ontwijd.
39Như vậy, họ làm cho mình bị ô uế vì công việc mình, Lấy sự làm mình mà thông dâm.
39Zo bezoedelden ze zich door eigen maaksels, En dreven overspel met het werk hunner handen!
40Nhân đó cơn giận Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự Ngài, Ngài gớm ghiếc cơ nghiệp mình;
40Toen werd Jahweh vergramd op zijn volk, En zijn erfdeel begon Hem te walgen:
41Ngài phó họ vào tay các ngoại bang; Những kẻ ghen ghét họ cai trị trên họ.
41Hij leverde ze aan de heidenen uit, En hun haters werden hun meesters;
42Kẻ thù nghịch cũng hà hiếp tổ phụ chúng ta. Họ bị phục dưới tay chúng nó.
42Ze werden verdrukt door hun vijand, Moesten bukken onder hun macht.
43Nhiều lần Chúa giải cứu tổ phụ chúng ta, Nhưng họ phiền lòng Ngài bởi ý muốn họ, Và họ hèn mọn vì tội ác của họ.
43En al bracht Hij hun telkens verlossing, Ze bleven in hun opstand volharden! Maar werden ze door hun misdaad vermorzeld,
44Dầu vậy, khi nghe tiếng kêu cầu của họ, Ngài bèn đoái xem họ trong cơn gian truân họ,
44Dan zag Hij neer op hun nood, zodra Hij hun smeken vernam;
45Nhớ lại vì họ giao ước mình, Và thương xót họ tùy sự nhân từ dư dật của Ngài.
45Dan was Hij voor hen zijn verbond weer indachtig, Had deernis met hen naar zijn grote ontferming;
46Ngài cũng làm cho họ được ơn Bên những kẻ bắt họ làm phu tù.
46Dan liet Hij hen genade vinden, Bij die hen hadden weggevoerd.
47Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời chúng tôi, xin hãy cứu chúng tôi, Nhóm hiệp chúng tôi từ giữa các nước, Hầu cho chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, úa, Và khoe mình về sự ngợ hen Chúaa.
47Ach, red ons Jahweh, onze God, En breng ons uit het land der heidenen samen: Opdat wij uw heilige Naam mogen danken, En uw heerlijkheid prijzen!
48Đáng ngợi khen Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời mãi mãi! Cả dân sự khá nói: A-men! Ha-lê-lu-gia!
48Gezegend zij Jahweh, Israëls God, van eeuwigheid tot eeuwigheid! Laat heel het volk het herhalen: Amen! Halleluja!

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.