Ma 25
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Khi ấy, nước thiên đàng sẽ giống như mười người nữ đồng trinh kia cầm đèn đi rước chàng rể.
1Тада ће бити царство небеско као десет девојака које узеше жишке своје и изиђоше на сусрет женику.
2Trong các nàng đó, có năm người dại và năm người khôn.
2Пет од њих беху мудре, а пет луде.
3Người dại khi cầm đèn đi thì không đem dầu theo cùng mình.
3И луде узевши жишке своје не узеше са собом уља.
4Song người khôn khi cầm đèn đi thì đem dầu theo trong bình mình.
4А мудре узеше уље у судовима са жишцима својим.
5Vì chàng rể đến trễ, nên các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ gục.
5А будући да женик одоцни, задремаше све, и поспаше.
6Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người!
6А у поноћи стаде вика: Ето женика где иде, излазите му на сусрет.
7Các nữ đồng trinh bèn thức dậy cả, sửa soạn đèn mình.
7Тада усташе све девојке оне и украсише жишке своје.
8Các người dại nói với các người khôn rằng: Xin bớt dầu của các chị cho chúng tôi, vì đèn chúng tôi gần tắt.
8А луде рекоше мудрима: Дајте нам од уља свог, јер наши жишци хоће да се угасе.
9Nhưng các người khôn trả lời rằng: Không, e chẳng đủ cho chúng tôi và các chị; thà các chị hãy đi đến người bán dầu mà mua.
9А мудре одговорише говорећи: Да не би недостало и нама и вама, боље је идите к трговцима и купите себи.
10Song trong khi họ đang đi mua, thì chàng rể đến; kẻ nào chực sẵn, thì đi với người cùng vào tiệc cưới, và cửa đóng lại.
10А кад оне отидоше да купе, дође женик, и готове уђоше с њим на свадбу, и затворише се врата.
11Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi!
11А после дођоше и оне друге девојке говорећи: Господару! Господару! Отвори нам.
12Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu.
12А Он одговарајући рече им: Заиста вам кажем: не познајем вас.
13Vậy, hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày, cũng không biết giờ.
13Стражите дакле, јер не знате дан ни час у који ће Син човечији доћи.
14Vả, nước thiên đàng sẽ giống như một người kia, khi đi đường xa, gọi các đầy tớ mà giao của cải mình.
14Јер као што човек полазећи дозва слуге своје и предаде им благо своје;
15Chủ đó cho người nầy năm ta-lâng, người kia hai, người khác một, tùy theo tài mỗi người; đoạn, chủ lên đường.
15и једном, дакле, даде пет таланата, а другом два, а трећем један, сваком према његовој моћи; и отиде одмах.
16Tức thì, người đã nhận năm ta-lâng đi làm lợi ra, và được năm ta-lâng khác.
16А онај што прими пет таланата отиде те ради с њима, и доби још пет таланата.
17Người đã nhận hai ta-lâng cũng vậy, làm lợi ra được hai ta-lâng nữa.
17Тако и онај што прими два доби и он још два.
18Song người chỉ nhận một thì đi đào lỗ dưới đất mà giấu tiền của chủ.
18А који прими један отиде те га закопа у земљу и сакри сребро господара свог.
19Cách lâu ngày, chủ của những đầy tớ ấy trở về khiến họ tính sổ.
19А по дугом времену дође господар тих слуга, и стаде се рачунати с њима.
20Người đã nhận năm ta-lâng bèn đến, đem năm ta-lâng khác nữa, và thưa rằng: Lạy chúa, chúa đã cho tôi năm ta-lâng; đây nầy, tôi làm lợi ra được năm ta-lâng nữa.
20И приступивши онај што је примио пет таланата, донесе још пет таланата говорећи: Господару! Предао си ми пет таланата; ево још пет таланата ја сам добио с њима.
21Chủ nói với người rằng: Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi.
21А господар његов рече му: Добро, слуго добри и верни! У малом био си ми веран, над многим ћу те поставити; уђи у радост господара свог.
22Người đã nhận hai ta-lâng cũng đến mà thưa rằng: Lạy chúa, chúa đã cho tôi hai ta-lâng; đây nầy, tôi đã làm lợi ra được hai ta-lâng nữa.
22А приступивши и онај што је примио два таланта рече: Господару! Предао си ми два таланта; ево још два таланта ја сам добио с њима.
23Chủ đáp rằng: Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi.
23А господар његов рече му: Добро, слуго добри и верни! У малом био си ми веран, над многим ћу те поставити; уђи у радост господара свог.
24Người chỉ nhận một ta-lâng cũng đến mà thưa rằng: Lạy chúa, tôi biết chúa là người nghiêm nhặt, gặt trong chỗ mình không gieo, lượm lặt trong chỗ mình không rải ra,
24А приступивши и онај што је примио један таланат рече: Господару! Знао сам да си ти тврд човек: жњеш где ниси сејао, и купиш где ниси вејао;
25nên tôi sợ mà đi giấu ta-lâng của chúa ở dưới đất; đây nầy, vật của chúa xin trả cho chúa.
25па се побојах и отидох те сакрих таланат твој у земљу; и ево ти своје.
26Song chủ đáp rằng: Hỡi đầy tớ dữ và biếng nhác kia, ngươi biết ta gặt trong chỗ ta không gieo, và lượm lặt trong chỗ ta không rải ra;
26А господар његов одговарајући рече му: Зли и лењиви слуго! Знао си да ја жњем где нисам сејао, и купим где нисам вејао:
27vậy thì ngươi phải đưa bạc của ta lại cho người buôn bạc, rồi khi ta trở về, sẽ lấy vốn và lời.
27Требало је дакле моје сребро да даш трговцима; и ја дошавши узео бих своје с добитком.
28Vậy, các ngươi hãy lấy ta-lâng của người nầy mà cho kẻ có mười ta-lâng.
28Узмите дакле од њега таланат, и подајте оном што има десет таланата.
29Vì sẽ cho thêm kẻ nào đã có, thì họ sẽ dư dật; nhưng kẻ nào không có, thì cũng cất luôn điều họ đã có nữa.
29Јер сваком који има, даће се, и претећи ће му; а од оног који нема, и шта има узеће се од њега.
30Còn tên đầy tớ vô ích đó, hãy quăng nó ra ngoài là chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.
30И неваљалог слугу баците у таму најкрајњу; онде ће бити плач и шкргут зуба.
31Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài.
31А кад дође Син човечији у слави својој и сви свети анђели с Њиме, онда ће сести на престолу славе своје.
32Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người nầy với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra;
32И сабраће се пред Њим сви народи, и разлучиће их између себе као пастир што разлучује овце од јараца.
33để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả.
33И поставиће овце с десне стране себи, а јарце с леве.
34Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất.
34Тада ће рећи цар онима што Му стоје с десне стране: ходите благословени Оца мог; примите царство које вам је приправљено од постања света.
35Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta;
35Јер огладнех, и дасте ми да једем; ожеднех, и напојисте ме; гост бејах, и примисте ме;
36ta trần truồng, các ngươi mặc cho ta; ta đau, các ngươi thăm ta; ta bị tù, các ngươi viếng ta.
36го бејах, и оденусте ме; болестан бејах, и обиђосте ме; у тамници бејах, и дођосте к мени.
37Lúc ấy, người công bình sẽ thưa rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đói, mà cho ăn; hoặc khát, mà cho uống?
37Тада ће Му одговорити праведници говорећи: Господе! Кад Те видесмо гладна, и нахранисмо? Или жедна, и напојисмо?
38Lại khi nào chúng tôi đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà mặc cho?
38Кад ли Те видесмо госта, и примисмо? Или гола, и оденусмо?
39Hay là khi nào chúng tôi đã thấy Chúa đau, hoặc bị tù, mà đi thăm viếng Chúa?
39Кад ли Те видесмо болесна или у тамници, и дођосмо к Теби?
40Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.
40И одговарајући цар рећи ће им: Заиста вам кажем: кад учинисте једном од ове моје најмање браће, мени учинисте.
41Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó.
41Тада ће рећи и онима што Му стоје с леве стране: Идите од мене проклети у огањ вечни приправљен ђаволу и анђелима његовим.
42Vì ta đã đói, các ngươi không cho ăn; ta khát, các ngươi không cho uống;
42Јер огладнех, и не дадосте ми да једем; ожеднех, и не напојисте ме;
43ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; ta trần truồng, các ngươi không mặc cho ta; ta đau và bị tù, các ngươi không thăm viếng.
43гост бејах, и не примисте ме; го бејах, и не оденусте ме; болестан и у тамници бејах, и не обиђосте ме.
44Đến phiên các người nầy bèn thưa lại rằng: Lạy Chúa, khi nào chúng tôi đã thấy Chúa, hoặc đói, hoặc khát, hoặc làm khách lạ, hoặc trần truồng, hoặc đau ốm, hoặc bị tù mà không hầu việc Ngài ư?
44Тада ће Му одговорити и они говорећи: Господе! Кад Те видесмо гладна или жедна, или госта или гола, или болесна или у тамници, и не послужисмо Те?
45Ngài sẽ đáp lại rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi không làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn nầy, ấy là các ngươi cũng không làm cho ta nữa.
45Тада ће им одговорити говорећи: Заиста вам кажем: кад не учинисте једном од ове моје мале браће, ни мени не учинисте.
46Rồi những kẻ nầy sẽ vào hình phạt đời đời, còn những người công bình sẽ vào sự sống đời đời.
46И ови ће отићи у муку вечну, а праведници у живот вечни.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.