Lê-vi
Chapter 22
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
1Angraeng mah Mosi khaeah,
2Hãy truyền cho A-rôn và các con trai người rằng phải kiêng cữ những của lễ thánh của dân Y-sơ-ra-ên, dâng biệt riêng ra thánh cho ta, hầu cho chúng chớ làm ô danh thánh ta: Ta là Đức Giê-hô-va.
2Aaron hoi a capanawk loe Israel kaminawk mah paek o ih kaciim hmuennawk hoi kamhoe ah oh o han oh; kai khaeah paek o ih kaciim hmuennawk hoiah ka hmin to amhnong o sak han om ai, tiah thui paeh; Kai loe Angraeng ah ka oh, tiah a naa.
3Hãy nói với họ rằng: Phàm ai trong dòng giống các ngươi và trong vòng con cháu các ngươi đã bị ô uế, đến gần các vật thánh mà dân Y-sơ-ra-ên biệt riêng cho Đức Giê-hô-va, thì ai đó sẽ bị truất khỏi trước mặt ta: Ta là Đức Giê-hô-va.
3Angzo han koi caanawk boih thung ih, ciimcai ai kami mah, Israel kaminawk mah Angraeng khaeah ciimcai ah paek o ih kaciim hmuen taengah caeh nahaeloe, to kami to Ka hmaa hoi kamhoe ah suem oh; Kai loe Angraeng ah ka oh.
4Phàm ai là con cháu của A-rôn bị bịnh phung hay là bạch trược, thì chẳng được ăn vật biệt riêng ra thánh cho đến chừng nào được tinh sạch. Ai đụng đến một người đã bị ô uế bởi xác chết, ai có di tinh,
4Aaron ih caanawk thungah ngansae man kami maw, to tih ai boeh loe ahmaa thung hoiah ahnai tacawt kami maw om nahaeloe, ciimcai ai karoek to anih loe, kaciim ah paek ih hmuennawk to caa mak ai. Mi kawbaktih doeh ciimcai ai qok sui kami maw, to tih ai boeh loe tangzat tui pathok nongpa maw,
5hay là ai đụng đến hoặc loài côn trùng, hoặc một người bị sự ô uế nào làm cho mình ô uế, thì cũng phải một thể ấy.
5to tih ai boeh loe ciimcai ai long ah kavak hmuen maeto sui kami maw, kami maeto mah ciimcai ai ah ohsak ih kami maw, to tih ai boeh loe kaciim ai hmuen maeto mah akap thuih ih kami loe ciimcai ai kami ah oh boeh.
6Ai đụng đến các vật đó sẽ bị ô uế đến chiều tối, không được ăn vật biệt riêng ra thánh, nhưng phải tắm mình trong nước.
6To baktih ciimcai ai hmuen sui kami loe, duembang khoek to ciim mak ai; tui amhluh ai ah loe anih mah kaciim ah paek ih hmuennawk to caa mak ai.
7Sau khi mặt trời lặn, người sẽ được sạch lại, rồi mới được phép ăn các vật thánh, vì là đồ ăn của người.
7Anih loe niduem naah ni ciim vop tih, kaciim ah paek ih hmuen loe nihcae ih buh ah oh pongah, ciim pacoengah ni kaciim ah paek ih hmuen to caa o thai vop tih.
8Người chẳng nên ăn một con thú nào chết tự nhiên hay là bị xé, hầu khỏi bị ô uế: Ta là Đức Giê-hô-va.
8Angmah koeh ah kadueh moi hoi moisan mah kaek ih moi to caa hmah; a takpum amhnong hanah to baktih moi to caak han om ai; Kai loe Angraeng ah ka oh.
9Vậy, họ phải giữ điều ta phán dặn, kẻo mang tội lỗi và chết chăng, vì đã làm các vật thánh nay ra ô uế: Ta là Đức Giê-hô-va làm cho họ nên thánh.
9Qaimanawk loe amhnong o moe, angmacae zaehaih pongah, a duek o han ai ah, ka paek ih loknawk to pazui o han oh; Kai loe nihcae ciimsakkung, Angraeng ah ka oh.
10Chẳng một kẻ khách ngoại bang nào được ăn vật thánh; kẻ nào ở tại nhà thầy tế lễ hay là người làm mướn, cũng chẳng được ăn vật thánh.
10Prae kalah kami loe kaciim ah paek ih hmuen to caa mak ai; qaima im ah katoem angvin maw, to tih ai boeh loe anih mah tlai ih kami mah doeh kaciim ah paek ih hmuen to caa mak ai.
11Nhưng kẻ nào thầy tế lễ lấy bạc mua về, và kẻ sanh đẻ tại nhà người, thì được phép ăn đồ ăn của người.
11Toe qaima mah angmah ih phoisa hoi qan ih kami maw, to tih ai boeh loe angmah ih imthung ah tapen kami loe, buh to caa thai tih.
12Nếu con gái của thầy tế lễ kết thân cùng kẻ khách ngoại bang, thì sẽ không được ăn vật thánh dâng giơ lên.
12Qaima canu to minawk kalah khaeah sava sah nahaeloe, kaciim ah paek ih hmuen to caa thai mak ai.
13Còn nếu con gái của thầy tế lễ đã góa hay là bị để, không có con, trở về nhà cha ở như buổi còn thơ, thì nàng sẽ được ăn đồ ăn của cha mình, nhưng chẳng kẻ khách ngoại bang nào nên ăn.
13Toe qaima canu loe lamhmai maw, to tih ai boeh loe sava hoi ampraek ving moe, caa sah ai ah ampa im ah amlaem let pacoengah, tangla nathuem ih baktih toengah ampa im ah om nahaeloe, ampa ih buh to caa thai tih; toe minawk kalah mah loe caa thai mak ai.
14Nếu ai lầm ăn một vật thánh, thì phải đền lại cho thầy tế lễ giá của vật thánh đó, và phụ thêm một phần năm.
14Panoek ai ah kaciim ah paek ih hmuen to caa moeng kami loe, a caak moeng ih hmuen hoi nawnto ah pangato thungah maeto thap moe, qaima khaeah paek han angaih.
15Thầy tế lễ chớ làm ô uế của lễ mà dân Y-sơ-ra-ên dâng giơ lên cho Đức Giê-hô-va.
15Israel kaminawk mah Angraeng khaeah paek o ih, kaciim hmuen to qaima mah amhnongsak han om ai;
16Ai ăn vật thánh đã dâng như vậy sẽ mang tội mình đã phạm, vì ta là Đức Giê-hô-va làm cho các vật đó nên thánh.
16to tiah paek ih kaciim hmuen to caak moeng pongah, anih nuiah zaehaih kraksak han om ai; Kai loe nihcae ciimsakkung, Angraeng ah ka oh, tiah a thuih, tiah thui paeh, tiah a naa.
17Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
17Angraeng mah Mosi khaeah,
18Hãy truyền cho A-rôn và các con trai người, cùng cho cả dân Y-sơ-ra-ên, mà rằng: Hễ người nhà Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa họ, mà dâng của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, hoặc của lễ khấn nguyện, hay là của lễ lạc ý, hầu cho được nhậm,
18Aaron hoi a capanawk hoi Israel kaminawk boih khaeah, Israel imthung takoh thung hoi tacawt kami mah maw, to tih ai boeh loe Israel kaminawk salakah kaom prae kalah kami mah maw, lokkamhaih sak ih baktiah hmuen tathlanghaih maw, to tih ai boeh loe angmah koeh ah sak ih hmuen tathlanghaih maw, Angraeng khaeah hmai angbawnhaih ah sak naah;
19phải dâng một con đực không tì vít chi bắt trong bầy bò, hoặc chiên con hay là dê cái.
19talawk thai koiah kaom coek koi kaom ai, maitaw tae maw, tuu hoi maeh maw paek han oh.
20Các ngươi chớ dâng một con vật nào có tì vít, vì nó sẽ không được nhậm.
20Toe coek koi kaom hmuen to paek hmah; to baktih hmuen loe talawk thai koi hmuen ah om ai;
21Khi một người nào dâng cho Đức Giê-hô-va một của lễ thù ân bằng bò hay chiên, hoặc dâng trả lễ khấn nguyện hay là lạc ý, hầu cho con sinh được nhậm, phải không có một tì vít chi trên mình.
21lokkamhaih baktiah paek ih hmuen, angmah palung angthawk baktiah paek ih hmuen ah, maitaw tae maw, tuu maw Angraeng khaeah na paek nahaeloe, anih mah talawk thai hanah, coek koi kaom ai, kakoep to paek ah.
22Các ngươi chớ dâng cho Đức Giê-hô-va một con thú nào hoặc mù mắt, què cẳng, bị xé, ghẻ chốc, hay là lát; các ngươi chớ bắt nó làm của lễ dùng lửa dâng lên cho Đức Giê-hô-va trên bàn thờ.
22Kawbaktih hmuen doeh mikmaeng, to tih ai boeh loe ahuh angkhaek, to tih ai boeh loe khokkhaem, khokban akoep ai, to tih ai boeh loe ahlut hoi ahnai kaom hmuen hoiah Angraeng khaeah hmuen tathlanghaih to sah hmah; Angraeng han hmaicam pongah hmai angbawnhaih to sah hmah;
23Các ngươi được bắt một con bò hay chiên con có giò dài quá, hoặc ngắn quá mà làm của lễ lạc ý; nhưng về của lễ khấn nguyện, con thú như vầy quả sẽ chẳng được nhậm.
23na palung angthawkhaih hoi paek ih hmuen ah loe, coek koi kaom maitaw maw, tuu maw na paek thaih; toe lokkamhaih baktiah hmuen tathlanghaih sak naah loe coek koi kaom hmuen to talawk thai mak ai.
24Các ngươi chớ dâng cho Đức Giê-hô-va tại xứ mình một con thú nào hòn nang bị dập nát, rứt hay là thiến đi.
24Ngan kabawk, to tih ai boeh loe ahmaa kaom, to tih ai boeh loe ahuh angkhaek, to tih ai boeh loe aahhaih ahmaa kaom moi to Angraeng han paek hmah; na prae thungah to baktih moi tathlanghaih to sah hmah.
25Chớ nhận nơi tay kẻ khách ngoại bang một con sinh nào bị như vậy đặng dâng làm thực vật cho Đức Chúa Trời mình, vì nó đã bị hư và có tì vít trên mình, không được nhậm vì các ngươi đâu.
25To baktih moi to prae kalah kami mah Angraeng khaeah paek langlacadoeh, akoep ai moe, coek koi doeh oh pongah, talawk thai mak ai, tiah a naa.
26Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
26Angraeng mah Mosi khaeah,
27Hễ con bò con, con chiên con hay con dê con, phải ở quẩn theo mẹ trong bảy ngày sau khi lọt lòng; nhưng qua ngày thứ tám về sau sẽ được nhậm làm của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.
27maitaw tae maw, to tih ai boeh loe tuu maw, to tih ai boeh loe maeh to tapen naah, ni sarihto thung amno khaeah omsak ah; ni tazetto pacoengah loe Angraeng khaeah hmai angbawnhaih to sak thai boeh.
28Bất k” bò cái hay chiên cái, các ngươi chớ giết nó và con nó trong một ngày.
28Maitaw maw, tuu maw, nito thungah a caa hoi nawnto bop hmaek hmah.
29Khi các ngươi dâng của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va, thì phải dâng thế nào cho của lễ vì các ngươi được nhậm.
29Angraeng khaeah anghoehaih hmuen to na paek o naah, na palung angthawkhaih baktih toengah paek oh.
30Của lễ đó phải ăn nội ngày, không nên để chi lại cho đến sớm mai: Ta là Đức Giê-hô-va.
30Na paek niah moi to caa o boih ah; khawnbang khoek to suem o hmah; Kai loe Angraeng ah ka oh.
31Vậy, hãy giữ làm theo các điều răn ta: Ta là Đức Giê-hô-va.
31To pongah ka paek ih lok hae pakuem ah loe pazui ah; Kai loe Angraeng ah ka oh.
32Đừng làm ô danh thánh ta, thì ta sẽ được tôn thánh giữa dân Y-sơ-ra-ên: Ta là Đức Giê-hô-va làm cho các ngươi nên thánh,
32Kaciim Kai ih ahmin to amhnong o sak hmah; Kai loe Ka ciim, tiah Israel kaminawk mah poek o han oh; Kai loe nangcae ciimsakkung, Angraeng ah ka oh,
33tức Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, để làm Đức Chúa Trời các ngươi: Ta là Đức Giê-hô-va.
33nangcae ih Sithaw ah Ka oh hanah, Izip prae thung hoi nangcae zaehoikung ah ka oh; Kai loe Angraeng ah ka oh, tiah a naa.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.