Lê-vi
Chapter 10
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Hai con trai A-rôn, Na-đáp và A-bi-hu, mỗi người đều cầm lư hương mình, để lửa vào, bỏ hương lên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va; ấy là điều Ngài không phán dặn họ.
1Aaron capa Nadab hoi Abihu loe angmah hnik ih hmuihoih thlaekhaih sabae to a lak hoi; a thungah hmai to suek hoi moe, a nuiah hmuihoih a phuih hoi pacoengah, Angraeng mah patoh han ai ah thuih pae ih kalah hmai to a hmaa ah paek hoi.
2Một ngọn lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.
2To naah Angraeng khae hoiah hmai to tacawt moe, nihnik to kangh hmaek; to tiah nihnik loe Angraeng hmaa ah duek hoi.
3Môi-se bèn nói cùng A-rôn rằng: Aáy là điều Đức Giê-hô-va đã tỏ ra khi Ngài phán rằng: Ta sẽ nhờ những kẻ lại gần ta mà được tôn thánh và được vinh hiển trước mặt cả dân sự. A-rôn nín lặng.
3To pacoengah Mosi mah Aaron khaeah, Angraeng mah hae tiah thuih; kai khaeah anghnai kami loe ciimcai, tiah a poek han oh; Ka lensawkhaih kaminawk boih hmaa ah pakoeh han oh, tiah a thuih, tiah a naa. To naah Aaron loe anghngai duem.
4Môi-se gọi Mi-sa-ên và Eân-sa-phan, hai con trai của U-xi-ên, chú của A-rôn, mà dạy rằng: Hãy lại gần khiêng thây hai anh em các ngươi khỏi trước nơi thánh, đem ra ngoài trại quân.
4To naah Mosi mah Aaron ih ampu Uzziel capanawk, Mishael hoi Elzaphan to kawk moe, nihcae khaeah, Haeah angzo oh, nam nawkamyanawk to hmuenciim hoiah na oh o haih ahmuen tasa bangah angzawn oh, tiah a naa.
5Vậy, họ đến gần khiêng thây còn mặc áo lá trong ra ngoài trại quân, y như lời Môi-se đã biểu.
5To pongah Mosi mah paek ih lok baktih toengah, nihcae to angzoh o moe, angmah hnik ih laihaw kasawk hoi nawnto a ohhaih tasa bangah angzawn o.
6Đoạn, Môi-se nói cùng A-rôn, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, hai con trai người, mà rằng: Các ngươi chớ để đầu trần và chớ xé áo mình, e khi phải chết và Đức Giê-hô-va nổi giận cùng cả hội chúng chăng; nhưng anh em các ngươi, là cả nhà Y-sơ-ra-ên, phải nên khóc vì cớ lửa thiêu hóa mà Đức Giê-hô-va nổi phừng lên.
6To naah Mosi mah Aaron ih capa hnik Eleazar hoi Ithamar khaeah, lumuek to angkhring hoi hmah, nang khuk hoi ih khukbuennawk doeh angkhring hoi hmah; to tih ai nahaeloe na dueh hoi tih, Angraeng palungphuihaih acaeng kaminawk nuiah pha moeng tih; toe nam nawkamya hoi Israel imthung takoh boih mah Angraeng mah hmai kanghsak maat ih kami hnik hanah, qah o haih nasoe.
7Đừng ra khỏi cửa hội mạc, e các ngươi phải chết chăng; vì dầu xức của Đức Giê-hô-va ở trên các ngươi. Họ bèn làm theo lời Môi-se.
7Angraeng mah situi bawhhaih to na nuiah oh pongah, amkhuenghaih kahni im thok tasa bangah caeh hmah; to tih ai nahaeloe na dueh moeng tih, tiah a naa. To pongah Mosi mah thuih ih lok baktih toengah, a sak o.
8Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn rằng:
8To pacoengah Angraeng mah Aaron khae ah,
9Khi nào vào hội mạc, ngươi và các con trai ngươi chớ nên uống rượu hay là uống vật chi có tánh say, e phải chết chăng: ấy là một mạng lịnh đời đời, trải các thế đại,
9Nangmah hoi na caanawk, amkhuenghaih kahni imthung ah na caeh o naah, mu hoi paqui thaih hmuen roe nae o hmah; to tih ai nahaeloe na dueh o moeng tih; hae loe angzo han koi na caanawk mah pazui poe hanah paek ih zaehhoihhaih daan ah oh:
10hầu cho các ngươi được phân biệt điều thánh và điều chẳng thánh, sự khiết và sự chẳng khiết,
10kacai hoi cai ai, kaciim hoi ciim ai hmuen to tapraek oh loe,
11và dạy dân Y-sơ-ra-ên các mạng lịnh mà Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dặn cho.
11Angraeng mah Mosi patohhaih rang hoiah nihcae khaeah thuih ih zaehhoihhaih daannawk to Israel kaminawk boih han patuk ah, tiah a naa.
12Môi-se nói cùng A-rôn, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, là hai con trai A-rôn còn lại, mà rằng: Hãy lấy của lễ chay còn dư lại về của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, và hãy ăn đi không pha men, gần bàn thờ, vì là một vật chí thánh.
12Mosi mah Aaron hoi kanghmat anih ih capa hnik, Eleazar hoi Ithamar khaeah, taeh thuh ai ah, Angraeng khaeah hmai hoi angbawnhaih ah paek ih kamtlai takaw to la hoih loe, hmaicam taengah caa hoih; to loe ciimcai ah oh.
13Phải ăn của lễ nầy tại nơi thánh, vì là phần của ngươi và của các con trai ngươi trong những của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; bởi vì đã phán dặn ta làm như vậy.
13Angraeng khaeah hmai angbawnhaih loe, nang ih taham hoi na capanawk ih taham ah oh pongah, hmuenciim ah caa oh; to lokpaekhaih to ka hnuk boeh.
14Còn cái o dâng đưa qua đưa lại, và cái giò dâng giơ lên, ngươi, các con trai và các con gái ngươi hãy ăn tại một nơi tinh sạch, vì các điều đó đã ban cho làm phần riêng của ngươi và của các con trai ngươi, do những của lễ thù ân của dân Y-sơ-ra-ên.
14Toe nangmah, na canu hoi na capanawk loe, ahaek ih palaeng hoi saoek to hmueciim ah caa oh; Israel kaminawk mah paek ih angdaeh angbawnhaih ah oh pongah, nangmah hoi na capanawk ih taham ah om tih.
15Họ sẽ đem đến cái giò dâng giơ lên và cái o dâng đưa qua đưa lại với những mỡ định thiêu hóa, để dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va. Những điều đó sẽ thuộc về ngươi và các con trai ngươi chiếu theo luật lệ đời đời, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn vậy.
15Hmai hoi angbawnhaih sak ih athawk hoi nawnto, ahaek ih palaeng hoi saoek to Angraeng hmaa ah ahaek angbawnhaih sak hanah ahaek ah; Angraeng mah thuih ih lok baktih toengah, to loe nangmah hoi na capanawk han dungzan ah paek ih taham ah oh, tiah a naa.
16Vả, Môi-se tìm con dê đực dùng làm của lễ chuộc tội, thấy nó đã bị thiêu, bèn nổi giận cùng Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, hai con trai A-rôn còn lại và nói rằng:
16Mosi mah zae angbawnhaih maeh to palung tang hoiah pakrong; khenah, maeh loe hmai pakhaem o ving boeh! To naah kahing kanghmat Aaron capa hnik, Eleazar hoi Ithamar nuiah palungphui moe,
17Sao các ngươi không ăn thịt con sinh tế chuộc tội trong nơi thánh? Vì là một vật chí thánh mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi, hầu gánh lấy tội của hội chúng, và làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va.
17kaminawk ih zaehaih to phawh moe, Angraeng hmaa ah nihcae zaehaih loih thai hanah angbawnhaih sak pae han ih nang hnik khaeah ang paek o ih kaciim koek, zae angbawnhaih moi loe tipongah hmuenciim ah na caa hoi ai loe?
18Nầy, huyết nó không có đem vào trong nơi thánh; quả đáng các ngươi ăn sinh lễ trong nơi thánh, y như lời ta đã dặn biểu.
18Khenah, hmuenciim thungah athii to sin ai pongah, kang paek ih lok baktih toengah, maeh moi to hmuenciim thungah na caak hoi han oh bae, tiah a naa.
19Nhưng A-rôn đáp rằng: Kìa, ngày nay họ đã dâng của lễ chuộc tội và của lễ thiêu của mình trước mặt Đức Giê-hô-va; và sau khi việc rủi nầy xảy ra, nếu lại ngày nay tôi ăn của lễ chuộc tội, há có đẹp lòng Đức Giê-hô-va chăng?
19Aaron mah Mosi khaeah, Khenah, vaihniah zae angbawnhaih hoi hmai angbawnhaih Angraeng hmaa ah a sak hoi; toe ka nuiah to baktih hmuen to oh moeng boeh; vaihniah zae angbawnhaih moi to ka caak nahaeloe, Angraeng hmaa ah tapom thai koi hmuen ah om tih maw? tiah a naa.
20Môi-se nghe lời đáp ấy, bèn nhận cho phải.
20Mosi mah to lok to thaih naah, palung khuek tih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.