Lê-vi 23
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
1Angraeng mah Mosi khaeah,
2Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là những ngày lễ của Đức Giê-hô-va các ngươi hãy rao truyền ra là các hội thánh.
2Israel kaminawk khaeah, Angraeng ih poih ninawk, Kai ih hae poih ninawk loe, kaciim amkhuenghaih niah oh, tiah taphong ah.
3Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm hiệp thánh; đừng làm một công việc gì; ấy là lễ sa-bát của Đức Giê-hô-va trong những nơi các ngươi ở.
3Ni tarukto thung toksah oh; toe ni sarihto ni loe anghakhaih Sabbath niah oh, kaciim amkhuenghaih niah oh pongah, tih tok doeh sah o hmah; na oh o haih ahmuen boih loe Angraeng ih Sabbath niah oh.
4Nầy là những lễ của Đức Giê-hô-va, tức những sự nhóm hiệp thánh, các ngươi phải rao truyền ra khi đến k” nhất định.
4Atue phak naah nangcae mah taphong han ih, kaciim amkhuenghaih hoi Angraeng ih poih ninawk loe,
5Đến ngày mười bốn tháng giêng, vào buổi chiều tối, ấy là lễ Vượt-qua của Đức Giê-hô-va;
5khrah tangsuek, ni hatlai palito na ni, duembang loe Angraeng loihhaih niah oh.
6qua ngày rằm tháng nầy, ấy là lễ bánh không men để kính trọng Đức Giê-hô-va; các ngươi sẽ ăn bánh không pha men trong bảy ngày.
6To ih akhrah hatlai pangato haih ni loe, taeh thuh ai ih takaw hoiah Angraeng khaeah sak ih poih ah oh; ni sarihto thung taeh thuh ai ih takaw to caa oh.
7Ngày đầu, các ngươi sẽ có một sự nhóm hiệp thánh, chẳng nên làm một công việc xác thịt.
7Ni hmaloe koek ah toksah ai, kaciim amkhuenghaih to sah oh.
8Trong bảy ngày các ngươi phải dâng cho Đức Giê-hô-va những của lễ dùng lửa dâng lên; đến ngày thứ bảy, sẽ có một sự nhóm hiệp thánh nữa, các ngươi đừng làm một công việc xác thịt nào hết.
8Ni sarihto thung Angraeng khaeah hmai angbawnhaih to sah oh; sarihto ni loe kaciim amkhuenghaih niah oh pongah, toksah o hmah, tiah a thuih, tiah thui paeh, tiah a naa.
9Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
9Angraeng mah Mosi khaeah,
10Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi nào các ngươi đã vào xứ mà ta sẽ ban cho, và đã gặt mùa màng rồi, thì hãy đem đến cho thầy tế lễ một bó lúa đầu mùa của các ngươi.
10Israel kaminawk khaeah hae tiah thui paeh; kang paek ih prae thungah na kun o moe, cang na aah o naah, na aah o tangsuek ih cangqui to qaima khaeah sin oh.
11Qua ngày sau lễ sa-bát, thầy tế lễ sẽ dâng bó lúa đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, hầu cho bó lúa đó được nhậm.
11Na paek ih hmuen to talawk hanah, qaima mah cangqui to Angraeng hmaa ah ahaek tih, qaima mah Sabbath ni pacoeng, khawnbang ah ahaek tih.
12Chính ngày dâng bó lúa đưa qua đưa lại đó, các ngươi cũng phải dâng cho Đức Giê-hô-va một chiên con giáp năm, không tì vít chi, đặng làm của lễ thiêu;
12Cangqui to ahaek moe, na paekhaih niah, coek koi kaom ai saningto kaom tuucaa hoiah Angraeng khaeah angbawnhaih to sah oh.
13và dâng thêm một của lễ chay bằng hai phần mười bột lọc chế dầu, làm của lễ dùng lửa dâng lên, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va, với một phần tư hin rượu, làm lễ quán.
13Cang hoi angbawnhaih sak naah, situi hoi atok tangcae kahoih takaw dip ephah hato thungah hnetto, Angraeng khaeah hmuihoih ah paek hanah, hmai angbawnhaih to sah ah; naek koi paek hanah misurtui hint palito thungah maeto paek ah.
14Các ngươi chớ ăn hoặc bánh, hoặc hột lúa rang, hoặc lúa đang ở trong gié cho đến chính ngày nầy, tức là ngày các ngươi đem dâng của lễ cho Đức Chúa Trời mình. Mặc dầu ở nơi nào, ấy là một lệ định đời đời cho con cháu các ngươi.
14Na Sithaw khaeah paekhaih ni pha ai karoek to, takaw maw, to tih ai boeh loe haek ih cang maw, to tih ai boeh loe aan kahingnawk to caa o hmah; hae loe na oh o haih ahmuen kruek ah, angzo han koi na caanawk khaeah dungzan ah paek ih lok ah oh.
15Kể từ ngày sau lễ sa-bát, là ngày đem bó lúa dâng đưa qua đưa lại, các ngươi sẽ tính bảy tuần lễ trọn:
15Ahaek moe, paek koi cangqui sinhaih ni, Sabbath ni pacoeng, khawnbang ni hoi kamtong, Sabbath ni sarihto kroek ah.
16các ngươi tính năm mươi ngày cho đến ngày sau của lễ sa-bát thứ bảy, thì phải dâng một của lễ chay mới cho Đức Giê-hô-va.
16Sabbath ni pacoeng, khawnbang hoi kamtong, ni qui pangato kroek pacoengah, Angraeng khaeah cang kangtha to paek ah.
17Các ngươi hãy từ nhà mình đem đến hai ổ bánh đặng làm của lễ dâng đưa qua đưa lại; bánh đó làm bằng hai phần mười bột lọc hấp có pha men: ấy là của đầu mùa dâng cho Đức Giê-hô-va.
17Angraeng hanah athai tangsuek thingthai, taeh hoi abaeh ih kahoih takaw ephah hato thungah hnetto, ahaek moe, paek koi takaw kae hnetto ah sah ah loe, nangmacae im hoiah sin oh.
18Các ngươi cũng phải dâng luôn với bánh, bảy chiên con giáp năm chẳng tì vít chi, một con bò tơ, và hai con chiên đực với của lễ chay và lễ quán cặp theo, đặng làm của lễ thiêu tế Đức Giê-hô-va: ấy là một của lễ dùng lửa xông, có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
18To takaw hoi nawnto coek koi kaom ai, saningto kaom tuucaa sarihto, saning kanawk maitaw tae maeto, tuu tae hnetto paek oh; Angraeng khaeah paek hanah hmai hoi thlaek ih hmuihoih, takaw angbawnhaih hoi naek koi angbawnhaih loe, Angraeng hmaa ah sak ih hmai angbawnhaih ah oh.
19Các ngươi cũng phải dâng một con dê đực đặng làm của lễ chuộc tội, và hai chiên con giáp năm, đặng làm của lễ thù ân.
19To pacoengah zae angbawnhaih sak hanah maeh caa maeto, angdaeh angbawnhaih sak hanah, saningto kaom, tuucaa hnetto paek ah.
20Thầy tế lễ sẽ lấy các của lễ đó với hai ổ bánh bằng lúa đầu mùa, và hai chiên con, dâng đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va; các vật đó sẽ biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và thuộc về thầy tế lễ.
20Qaima mah Angraeng hmaa ah tuucaa hnetto, athai tangsuek thingthai hoi sak ih takaw hoi nawnto ahaek ueloe, ahaek angbawnhaih to sah tih; to tiah paek ih hmuen loe qaima han, Angraeng hmaa ah kaciim hmuen paekhaih ah oh.
21Các ngươi hãy rao truyền sự nhóm hiệp trong chính một ngày đó; phải có một sự nhóm hiệp thánh, chớ nên làm một công việc xác thịt nào. Aáy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào.
21To na niah karai tok to sah o hmah, kaciim amkhuenghaih ni, tiah taphong oh; na oh o haih ahmuen kruekah, hae loe angzo han koi na caanawk hanah, dungzan ah paek ih lok ah oh.
22Khi các ngươi gặt lúa trong xứ mình, chớ gặt tận đầu đồng, và chớ mót lúa sót lại; hãy để phần đó cho người nghèo và cho kẻ khách ngoại bang: Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.
22Na prae thung ih cang na aah o naah, lawk taki ah kaom cangnawk to aat o boih hmah, cangqui doeh anghmat ai ah akhui o boih hmah; kamtang hoi angvinnawk hanah caeh o taak ah; Kai loe na Angraeng Sithaw ah ka oh, tiah a thuih, tiah thui paeh, tiah a naa.
23Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
23Angraeng mah Mosi khaeah,
24Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ngày mồng một tháng bảy, sẽ có cho các ngươi một ngày nghỉ, một lễ kỷ niệm lấy tiếng kèn thổi mà rao truyền, tức là một sự nhóm hiệp thánh vậy.
24Israel kaminawk khaeah hae tiah thui paeh; Khrah sarihto haih, ni hmaloe koek loe, Sabbath ni, mongkah uenghaih ni hoi kaciim amkhuenghaih niah suem oh.
25Chớ làm một công việc xác thịt nào; phải dâng các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.
25Karai tok to sah o hmah; toe Angraeng khaeah hmai angbawnhaih to sah oh, tiah a thuih, tiah thui paeh, tiah a naa.
26Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng:
26Angraeng mah Mosi khaeah,
27Ngày mồng mười tháng bảy nầy là ngày lễ chuộc tội; các ngươi sẽ có sự nhóm hiệp thánh; hãy ép tâm hồn mình và dâng cho Đức Giê-hô-va các của lễ dùng lửa dâng lên.
27Khrah sarihto haih, ni hato naah loe, nangcae han zae angbawnhaih ni, kaciim amkhuenghaih niah oh; nangmah hoi nangmah to poek kamtang ah om ah loe, Angraeng hmaa ah hmai angbawnhaih to sah ah.
28Ngày đó chẳng nên làm công việc nào, vì là ngày chuộc tội, trong ngày đó phải làm lễ chuộc tội cho các ngươi trước mặt Giê-hô-va, Đức Chúa Trời mình.
28Na Angraeng na Sithaw hmaa ah, na zae angbawnhaih niah oh pongah, to na niah toksah hmah.
29Trong ngày đó, hễ ai không ép tâm hồn mình, sẽ bị truất khỏi dân sự mình.
29To na niah angmah hoi angmah poekhaih kamtang ah om ai kami loe, angmah ih acaeng thung hoi pahnawt han oh.
30Và hễ ai làm một công việc gì, thì ta sẽ diệt họ khỏi dân sự mình.
30To na niah toksah kami loe, kai mah angmah ih acaeng thung hoiah ka pahnawt han.
31Các ngươi chẳng nên làm công việc chi hết, ấy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi, mặc dầu ở nơi nào.
31To na niah loe kawbaktih tok doeh sah hmah; na oh o haih ahmuen kruekah, hae loe angzo han koi na caanawk hanah, dungzan ah paek ih lok ah oh.
32Aáy sẽ là một lễ sa-bát, một ngày nghỉ cho các ngươi; các ngươi phải ép tâm hồn mình. Ngày mồng chín tháng đó, các ngươi phải giữ lễ sa-bát mình, từ chiều nay đến chiều mai.
32To na ni loe anghakhaih Sabbath ni, nangmah hoi nangmah patangkhanghaih niah oh; to khrah ni takawtto haih, duembang hoi kamtong khawnbang aduem khoek to Sababth ni to zaa ah, tiah a naa.
33Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:
33Angraeng mah Mosi khaeah,
34Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Ngày rằm tháng bảy nầy là lễ lều tạm, trải qua bảy ngày đặng tôn kính Đức Giê-hô-va.
34Israel kaminawk khaeah hae tiah thui paeh; Khrah sarihto haih, ni hatlai pangato hoi kamtong, ni sarihto thung loe Angraeng ih kahni im poih sakhaih niah om tih.
35Ngày thứ nhất sẽ có sự nhóm hiệp thánh, các ngươi chẳng nên làm một công việc xác thịt nào.
35Ni tangsuek loe kaciim amkhuenghaih niah oh pongah, karai tok to sah hmah.
36Trong bảy ngày phải dâng các của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va; qua ngày thứ tám, các ngươi có một sự nhóm hiệp thánh nữa, cũng dâng của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va. Aáy sẽ là một hội trọng thể; chớ nên làm một công việc xác thịt nào hết.
36Ni sarihto thung Angraeng khaeah hmai hoi angbawnhaih to sah oh loe, ni tazetto naah kaciim amkhuenghaih to sah oh; Angraeng khaeah hmai hoi angbawnhaih to sah oh; to loe lensawk amkhuenghaih ah oh pongah, karai tok to sah o hmah.
37Đó là những lễ trọng thể của Đức Giê-hô-va, mà các ngươi phải rao truyền là sự nhóm hiệp thánh, đặng dâng cho Đức Giê-hô-va những của lễ dùng lửa dâng lên, của lễ thiêu, của lễ chay, của lễ thù ân, lễ quán, vật nào đã định theo ngày nấy.
37Hae loe Angraeng ih poih niah oh moe, Angraeng khaeah hmai hoi sak ih angbawnhaih, hmai hoi angbawnhaih, cang hoi angbawnhaih, moi hoi angbawnhaih, naek koi hmuen hoi angbawnhaihnawk to na sak o hanah, kaciim amkhuenghaih ah taphong oh;
38Ngoài ra, các ngươi phải cứ giữ lễ sa-bát của Đức Giê-hô-va, cứ dâng cho Ngài các lễ vật mình, các của lễ khấn nguyện và lạc ý.
38to pacoengah Angraeng ih Sabbath ni, tangqum paekhaih ni, lokkamhaih baktiah hmuen paekhaih ni, aimah palung angthawk baktih toengah, Angraeng khaeah hmuen paekhaih niah oh.
39Nhưng đến ngày rằm tháng bảy, khi các ngươi đã thâu-hoạch thổ sản mình rồi, hãy giữ một lễ cho Đức Giê-hô-va trong bảy ngày. Bữa thứ nhất sẽ là ngày nghỉ, và bữa thứ tám cũng sẽ là ngày nghỉ.
39Lawk thung ih thingthai qumponawk na pakhrik o pacoeng, khrah sarihto haih, ni hatlai pangato naah, ni sarihto thung Angraeng khaeah poih to sah oh; hmaloe koek ni loe Sabbath niah om ueloe, ni tazetto doeh Sabbath niah om tih.
40Bữa thứ nhất, các ngươi phải lấy trái cây tốt, tàu chà là, nhành cây rậm, và cây dương liễu, rồi vui mừng trong bảy ngày trước mặt Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.
40Ni hmaloe koek ah kahoih thingthai, thaankung tanghangnawk, kabuk thing tanghangnawk, tui taengah amzam akungnawk to la oh loe, na Angraeng Sithaw hmaa ah, ni sarihto thung anghoe oh.
41Mỗi năm, vào tháng bảy, các ngươi phải giữ lễ nầy cho Đức Giê-hô-va như vậy trong bảy ngày. Aáy là một lệ định đời đời cho dòng dõi các ngươi.
41Saning kruek ni sarihto thung Angraeng ih poih nito sah oh. Hae loe angzo han koi na caanawk khaeah, dungzan ah paek ih lok ah oh; to poih to ni sarihto naah sah oh.
42Hết thảy ai sanh trong dòng Y-sơ-ra-ên sẽ ở nơi trại trong bảy ngày,
42Nangcae loe ni sarihto thung im tetta pongah om oh; Israel prae thungah tapen kaminawk boih loe impoem ta thungah na oh o han oh;
43hầu cho dòng dõi các ngươi biết rằng khi ta đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ê-díp-tô, ta cho họ ở trong những trại: Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của các ngươi.
43to naah ni kai mah Izip prae thung hoiah Israel kaminawk ka zaeh naah, impoem ta thungah ka ohsak, tito na caanawk mah panoek o tih; Kai loe na Angraeng Sithaw ah ka oh, tiah a thuih, tiah thui paeh, tiah a naa.
44Aáy vậy, Môi-se truyền cho dân Y-sơ-ra-ên biết các lễ của Đức Giê-hô-va là lễ nào.
44To pongah Mosi mah, Angraeng mah thuih ih poih ninawk to Israel kaminawk khaeah taphong pae.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.