Lê-vi
Chapter 8
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
1Angraeng mah Mosi khaeah,
2Hãy đem A-rôn cùng các con trai người, áo xống, dầu xức, con bò tơ làm của lễ chuộc tội, hai con chiên đực, và giỏ bánh không men;
2Aaron hoi a capanawk to kawk ah, khukbuennawk, toksak caksakhaih situi, zae angbawnhaih sak hanah maitaw tae maeto, tuu tae hnetto hoi taeh thuh ai ih takaw benthang maeto la ah loe,
3rồi nhóm hiệp cả hội chúng tại cửa hội mạc.
3rangpui amkhuenghaih kahni im thok taengah kaminawk boih nawnto pakhueng ah, tiah a naa.
4Môi-se bèn làm y như lời Đức Giê-hô-va phán dặn, hội chúng nhóm hiệp tại nơi cửa hội mạc.
4Angraeng mah paek ih lok baktih toengah Mosi mah sak; kaminawk loe amkhuenghaih kahni im thok taengah nawnto amkhueng o.
5Môi-se nói cùng hội chúng rằng: Đây là các điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn làm theo.
5Mosi mah rangpuinawk khaeah, Angraeng mah hae tiah sak han ang thuih, tiah a naa.
6Đoạn, Môi-se biểu A-rôn và các con trai người lại gần, rồi lấy nước rửa họ.
6To pacoengah Mosi mah Aaron hoi a capanawk to hmabang tacawtsak pacoengah, tui hoiah pasaeh.
7Người mặc áo lá trong cho A-rôn, cột đai lưng, mặc áo dài, mặc ê-phót và cột đai ê-phót.
7Aaron to laihaw kasawk angkhuksak, kaengkaeh angzaengsak moe, kahni kasawk angkhuksak pacoengah, qaima kahni to angkhuksak; qaima ih laihaw anui zaenghaih kazii hoiah a takpum to a zaeng pae.
8Người cũng đeo bảng đeo ngực và gắn vào bảng u-rim và thu-mim,
8To pacoengah saoek padaphaih kahni to angkhuksak moe, saoek padaphaih kahni nuiah Urim hoi Thummin to a zaeng pae.
9đội cái mão lên đầu, phía trước mão buộc thẻ vàng, tức là tràng thánh, y như lời Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
9Aaron to lumuek angmueksak pacoengah, Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, kaciim sui tacik kangphaek to hmabang ih lumuek pongah a bet pae.
10Kế đó, Môi-se lấy dầu xức, xức cho đền tạm và các vật ở tại đó biệt riêng ra thánh,
10To pacoengah Mosi mah tak bawhhaih situi to lak moe, kahni im hoi a thungah kaom hmuennawk boih bawh pacoengah, ciimcaisak.
11rảy dầu bảy lần trên bàn thờ và xức dầu cho bàn thờ cùng các đồ phụ tùng của bàn thờ, cái thùng và chân thùng, đặng biệt riêng ra thánh.
11Hmaicam to situi hoiah vai sarihto a bawh, hmaicam hoi angmah ih laom sabaenawk boih, kathuk sabae hoi hmuen pahnuthaihnawk boih doeh, ciimcaisak hanah a bawh.
12Người cũng đổ dầu xức trên đầu A-rôn, xức cho người đặng biệt riêng ra thánh.
12Aaron to ciimcaisak hanah, anih ih lu to situi hoiah a bawh pae.
13Đoạn, Môi-se biểu các con trai A-rôn lại gần, mặc áo lá trong cho, cột đai, đội mão lên đầu, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
13Aaron capanawk to hmabang tacawtsak moe, laihaw kasawk to angkhuksak; kazii hoi kaeng angzaengsak pacoengah, Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, lumuek to angmueksak.
14Người biểu đem con bò tơ dùng làm của lễ chuộc tội lại gần, A-rôn và các con trai người nhận tay mình trên đầu nó.
14To pacoengah zae angbawnhaih sak hanah maitaw tae to a sin moe, zae angbawnhaih sak hanah Aaron hoi a capanawk mah maitaw lu nuiah ban to koeng o.
15Môi-se giết nó, lấy huyết, rồi dùng ngón tay bôi huyết trên chung quanh sừng của bàn thờ, làm cho bàn thờ nên thanh sạch; đoạn đổ huyết dưới chân bàn thờ; như vậy, người biệt bàn thờ riêng ra thánh, để làm lễ chuộc tội tại đó.
15Mosi mah maitaw tae to boh; hmaicam ciimcaisak hanah, a ban tadong hoi maitaw thii to lak moe, hmaicam nui ah kaom takiinawk thungah a thaengh pacoengah, athii to hmaicam kung ah a kraih; hmaicam nuiah angdaehhaih sak hanah, to tiah a ciimcaisak.
16Người lấy hết thảy mỡ chài, tấm da mỏng bọc gan, hai trái cật với mỡ của hai trái cật, rồi đem xông trên bàn thờ.
16Mosi mah takoh thung ih athawknawk, pathin nuiah kaom athawknawk, pakae hnetto hoi a nuiah kaom athawknawk to lak boih pacoengah, hmaicam nuiah hmai pakhaem.
17Còn con bò, da, thịt và phẩn nó, thì người đem thiêu ở ngoài trại quân, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
17Toe maitaw hin, ngan hoi aeknawk loe Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, angmacae ohhaih im tasa bangah hmai hoiah a thlaek.
18Người cũng biểu đem con chiên đực dùng làm của lễ thiêu lại gần, A-rôn và các con trai người nhận tay mình trên đầu nó;
18To pacoengah hmai angbawnhaih sak hanah tuu tae maeto a sin, Aaron hoi a capanawk mah tuu lu nuiah ban to koeng o.
19rồi Môi-se giết nó và rưới huyết chung quanh trên bàn thờ;
19Mosi mah tuu tae to boh moe, athii to hmaicam taeng boih ah a haeh.
20đoạn sả thịt ra từ miếng, đem xông cái đầu, mấy miếng đó và mỡ.
20Tuu atae ih moi to abaeh pacoengah, a lu, angan hoi athawknawk to Mosi mah hmai pakhaem.
21Người lấy nước rửa bộ lòng và giò, rồi xông trọn con chiên đực trên bàn thờ; ấy là một của lễ thiêu có mùi thơm, tức một của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.
21Takoh thung ih moi hoi akhoknawk to tui hoi pasaeh pacoengah, Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, tuu tae takpum boih hmaicam nuiah hmai hoiah pakhaem; to loe Angraeng khaeah hmuihoih ah sak ih hmai angbawnhaih ah oh.
22Người cũng biểu đem con chiên đực thứ nhì lại gần, tức là con chiên đực về lễ phong chức; A-rôn và các con trai người nhận tay mình trên đầu con chiên đực đó.
22To pacoengah kalah tuu tae maeto a sin let, to loe angpaekhaih sak hanah patoh; Aaron hoi a capanawk loe tuu tae lu nuiah ban to koeng o.
23Môi-se giết nó, lấy huyết bôi trên trái tai hữu của A-rôn, trên ngón cái của bàn tay mặt và trên ngón cái của bàn chân mặt.
23Mosi mah tuu tae to boh; athii to lak moe, Aaron ih bantang naa nui, bantang banpui nui hoi bantang khokpui nuiah a suek.
24Môi-se cũng biểu các con trai A-rôn đến gần, bôi huyết nơi trái tai hữu họ, trên ngón cái của bàn tay mặt và trên ngón cái của bàn chân mặt; đoạn, Môi-se rưới huyết chung quanh trên bàn thờ.
24Aaron capanawk to hmabang tacawtsak moe, Mosi mah nihcae ih bantang naa nui, bantang banpui nui hoi bantang khokpui nuiah suek pacoengah, athii hoiah hmaicam taeng to a haeh boih.
25Kế đó, người lấy mỡ, đuôi, hết thảy mỡ chài, tấm da mỏng bọc gan, hai trái cật với mỡ của hai trái cật và cái giò hữu;
25Athawk, tamai ih athawk, takoh thung ih athawknawk boih, pathin kakhuk athawk, pakae hnetto, athawknawk hoi bantang bang ih palaeng to a lak.
26lại lấy trong giỏ bánh không men để trước mặt Đức Giê-hô-va, một cái bánh nhỏ không men, một cái bánh nhỏ có dầu, và một cái bánh tráng, để mấy bánh đó trên những mỡ và giò hữu,
26To pacoengah Angraeng hmaa ah kaom, benthang pong ih taeh thuh ai ih takaw, takaw kae maeto, situi nok ih takaw kangphaek hoi takaw karoem maeto a lak moe, athawk nui hoi bantang palaeng nuiah a suek.
27đoạn để hết thảy trong tay A-rôn và tay các con trai người; họ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va.
27To hmuennawk to Aaron hoi a capanawk ih ban ah suek boih pacoengah, ahaek moe, paek ih hmuen baktiah, Angraeng hmaa ah ahaek.
28Môi-se lấy các món đó khỏi tay họ, đem xông nơi bàn thờ tại trên của lễ thiêu; ấy là của lễ về sự phong chức có mùi thơm, tức là của lễ dùng lửa dâng cho Đức Giê-hô-va.
28To pacoengah to hmuennawk to nihcae ban thung hoiah Mosi mah lak moe, hmai angbawnhaih moi hoi nawnto hmaicam nuiah hmai a qoeng; to loe hmuihoih angpaekhaih ah oh moe, Angraeng hmaa ah hmai hoi sak ih hmuen tathlanghaih ah oh.
29Môi-se cũng lấy cái o của con chiên đực về lễ phong chức và đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va; ấy là phần thuộc về Môi-se, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn người.
29Mosi mah saoek to lak pacoengah, Angraeng hmaa ah ahaek moe, ahaek hoi hmuen paekhaih to a sak; Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah, angpaekhaih tuu saoek loe Mosi taham ah ni oh.
30Kế ấy, Môi-se lấy dầu xức và huyết trên bàn thờ rảy trên A-rôn và trên quần áo người, trên các con trai người và trên quần áo họ, biệt A-rôn và quần áo người, các con trai người và quần áo họ riêng ra thánh.
30To pacoengah Mosi mah bawhhaih situi to lak moe, hmaicam nui ih athii to lak pacoengah, Aaron hoi anih ih khukbuennawk, a capanawk hoi a capanawk ih khukbuennawk to bawh pae; to tiah Aaron hoi a caanawk ih khukbuennawk to a ciimsak.
31Đoạn, Môi-se nói cùng A-rôn và các con trai người rằng: Các ngươi hãy nấu thịt tại cửa hội mạc, và ăn tại đó với bánh ở trong giỏ về lễ phong chức, y như ta đã phán dặn rằng: A-rôn và các con trai người sẽ ăn thịt đó.
31To pacoengah Mosi mah Aaron hoi a capanawk khaeah, Aaron hoi a capanawk mah caa o tih, tiah ka thuih ih lok baktih toengah, amkhuenghaih kahni im thok taengah, moi to thong oh ah loe, angpaekhaih benthang thung ih takaw hoi nawnto to ahmuen ah caa oh.
32Nhưng các ngươi phải thiêu thịt và bánh còn dư lại.
32Kamtlai moi hoi takaw loe hmai hoiah qoeng oh.
33Trong bảy ngày các ngươi không nên đi ra khỏi cửa hội mạc cho đến chừng nào những ngày phong chức mình được trọn rồi, vì việc phong chức các ngươi sẽ trải qua bảy ngày.
33Na takpum angpaekhaih ni boeng ai karoek to, amkhuenghaih kahni im thok tasa bangah caeh o hmah; ni sarihto thung na takpum angpaekhaih to sah ah.
34Đức Giê-hô-va đã phán dặn làm y như hôm nay người ta đã làm, để làm lễ chuộc tội cho các ngươi.
34Vaihniah sak ih hmuen baktih toengah, na zae loihaih to sak hanah, Angraeng mah paek ih lok to oh.
35Vậy, hãy ở trọn ngày cả đêm tại cửa hội mạc trong bảy bữa, gìn giữ mạng lịnh của Đức Giê-hô-va, hầu cho các ngươi khỏi thác, vì Ngài đã truyền dặn ta như vậy.
35To pongah na duek o han ai ah, amkhuenghaih kahni im thok taengah khoving khodai ni sarihto thung om oh loe, Angraeng ih tok to sah oh; to tiah lok ang paek boeh, tiah a naa.
36A-rôn và các con trai người làm mọi điều y như Đức Giê-hô-va cậy Môi-se truyền dặn vậy.
36To pongah Aaron hoi a capanawk loe, Angraeng mah Mosi khaeah thuih ih lok baktih toengah a sak o.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.