Lê-vi 17
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:
1Angraeng mah Mosi khaeah,
2Hãy nói cùng cả dân Y-sơ-ra-ên rằng: Nầy là lời Đức Giê-hô-va phán dặn:
2Aaron hoi a capanawk, Israel kaminawk boih khaeah, Angraeng mah hae tiah thuih;
3Nếu một người nam trong nhà Y-sơ-ra-ên giết một con bò, một con chiên con, hoặc một con dê trong trại quân hay là ngoài trại quân,
3kawbaktih Israel kami mah doeh maitaw maeto, to tih ai boeh loe tuucaa maeto, to tih ai boeh loe maeh to angmacae ohhaih im ah maw, to tih ai boeh loe tasa bangah maw boh moe,
4chẳng đem đến cửa hội mạc đặng dâng cho Đức Giê-hô-va, trước đền tạm của Ngài, thì huyết sẽ đổ tội về người; người đã làm đổ huyết ra, nên sẽ bị truất khỏi dân sự mình.
4Angraeng ih kahni im hmaa ih, amkhuenghaih kahni im thok taengah, Angraeng khaeah paek han sin ai nahaeloe, to kami to athii longsak kami ah net moe, angmah ih acaeng thung hoi pahnawt han oh.
5Aáy hầu cho dân Y-sơ-ra-ên lấy của lễ mình giết ngoài đồng, dẫn đến thầy tế lễ, trước mặt Đức Giê-hô-va, tại cửa hội mạc, đặng dâng lên làm của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va.
5Israel kaminawk loe taw ah a sak o ih angbawnhaih to, kaminawk amkhuenghaih kahni im hmaa, Angraeng hmaa ah, qaima khaeah sin o tih; to hmuen to Angraeng khaeah angdaeh angbawnhaih ahmuen ah paek o tih.
6Thầy tế lễ sẽ rưới huyết con sinh trên bàn thờ của Đức Giê-hô-va để tại cửa hội mạc, và xông mỡ có mùi thơm cho Đức Giê-hô-va.
6Qaima mah athii to amkhuenghaih kahni im thok taengah kaom, hmaicam nuiah haeh ueloe, Angraeng khaeah hmuihoih ah athawk to hmai pakhaem tih.
7Dân Y-sơ-ra-ên cũng chẳng nên dâng của lễ mình cho ma quỉ nữa, mà thông dâm cùng nó. Điều nầy sẽ làm một lệ định đời đời cho họ trải qua các thế đại.
7Nihcae mah angmacae hoi a takpum zawhhaih, taqawk khaeah angbawnhaih sah o mak ai boeh. Hae loe nihcae hoi a caanawk khoek to pazui han paek ih dungzan ah kaom zaehhoihhaih daan ah oh.
8Vậy, ngươi hãy nói cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Phàm người nào trong vòng dân Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa họ, dâng một của lễ thiêu hay là một của lễ chi,
8Nihcae khae ih, Mi kawbaktih Israel kami doeh, nihcae khaeah kaom angvinnawk doeh, hmai angbawnhaih maw, to tih ai boeh loe paek han ih hmuen maw a sin o naah,
9mà chẳng đem đến tại cửa hội mạc đặng dâng cho Đức Giê-hô-va, thì người đó sẽ bị truất khỏi dân sự mình.
9amkhuenghaih kahni im thok taengah, Angraeng khaeah sin o ai nahaeloe, to kami to angmah ih acaeng thung hoi pahnawt oh, tiah thui paeh.
10Phàm người nào của nhà Y-sơ-ra-ên hay là kẻ khách kiều ngụ giữa họ, ăn huyết chi cũng mặc, thì ta sẽ nổi giận cùng kẻ ăn đó, truất nó khỏi dân sự mình;
10Israel imthung takoh mah maw, to tih ai boeh loe nihcae salakah kaom angvinnawk mah maw, athii to caa o nahaeloe, athii caa kami to mikhmai ka set thuih moe, angmah ih acaeng thung hoiah pahnawt sut han.
11vì sanh mạng của xác thịt ở trong huyết; ta đã cho các ngươi huyết rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn mình; vì nhờ sanh mạng mà huyết mới chuộc tội được.
11Taksa hinghaih loe athii thungah oh; na sak o ih zaehaih to tahmen moe, na hing o thai hanah, to athii to hmaicam nuiah ka paek boeh; hae loe kami hing hanah zae angbawnhaih athii ah oh.
12Bởi cớ đó ta đã phán cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Trong vòng các ngươi không ai nên ăn huyết; kẻ khách kiều ngụ giữa các ngươi cũng không nên ăn huyết.
12To pongah Israel kaminawk khaeah, Nangcae thung ih mi kawbaktih doeh athii to caa o hmah; nangcae salakah kaom angvin mah doeh athii to caak han om ai, tiah ka thuih boeh.
13Còn nếu ai, hoặc dân Y-sơ-ra-ên. hoặc kẻ khách kiều ngụ giữa họ, đi săn được một con thú hay là con chim ăn thịt được, thì phải đổ huyết nó ra, rồi lấy bụi đất lấp lại;
13Israel kami mah maw, to tih ai boeh loe nangcae salakah kaom angvin mah maw, moi zoep naah moi maw, tavaa maw naeh nahaeloe, athii pathok moe, athii to maiphu hoi aphum pacoengah ni, caak han oh.
14vì sanh mạng của mọi xác thịt, ấy là huyết nó, trong huyết có sanh mạng. Bởi cớ ấy, ta đã phán cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Các ngươi không nên ăn huyết của xác thịt nào; vì sanh mạng của mọi xác thịt, ấy là huyết nó; ai ăn sẽ bị truất diệt.
14Athii loe taksa boih hinghaih ah oh; to pongah, Nangcae loe kawbaktih moi thii doeh caa o hmah, tiah Israel kaminawk khaeah ka thuih boeh; taksa boih hinghaih loe athii ah oh pongah, athii caa kami loe, pahnawt sut ah om tih.
15Hễ người nào, hoặc sanh đẻ tại xứ, hoặc kẻ khách, ăn thịt của một con thú chết hay là bị xé, phải giặt quần áo mình, tắm trong nước, bị ô uế đến chiều tối, đoạn được tinh sạch lại.
15Angmah koeh kadueh moi, moi kasan mah kaek ih moi caa kami, prae thung ih kami maw, to tih ai boeh loe angvin doeh, a khukbuen to pasuk moe, tui amhluk han oh; anih loe duembang khoek to ciim mak ai; tui amhluk pacoengah ni ciim vop tih.
16Còn nếu người không giặt quần áo và không tắm, thì sẽ mang tội mình.
16Toe a khukbuen to pasuk ai moe, tui doeh amhluh ai nahaeloe, to kami loe a zaehaih tho to hnu tih, tiah thui paeh, tiah a naa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.