Sáng 31
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Gia-cốp được nghe lời các con La-ban nói rằng: Gia-cốp đã lấy hết gia tài cha ta, và vì nhờ của cha ta, nên mới được giàu có dường ấy.
1Laban ih caanawk mah, Pa ih hmuennawk boih Jakob mah lak king pongah, vaihi anih loe hmuenmaenawk hoi angraeng boeh, tiah thuih ih lok to Jakob mah thaih.
2Gia-cốp cũng để ý coi nét mặt cậu, nhận biết rằng người chẳng đối ở với mình như trước nữa.
2Jakob mah Laban to khet naah, canghni ih baktiah mikhmai pan ai boeh, tito panoek.
3Đức Giê-hô-va phán cùng Gia-cốp rằng: Hãy trở về xứ của tổ phụ ngươi, chốn bà con ngươi, ta sẽ phù hộ ngươi.
3Angraeng mah Jakob khaeah, Nam pa ohhaih prae hoi nangmah ih acaeng kaminawk khaeah amlaem ah; kai mah kang oh thuih han hmang, tiah a naa.
4Gia-cốp bèn sai người gọi Ra-chên và Lê-a đến nơi cầm bầy súc vật của mình ngoài đồng,
4To pongah Jakob mah tuutoephaih ahmuen ah a zu Rachel hoi Leah to hoih hanah kami to patoeh.
5và nói cùng họ rằng: Ta thấy sắc mặt cha hai ngươi đối cùng ta chẳng còn như trước nữa, nhưng nhờ Đức Chúa Trời của cha ta phù hộ ta.
5Nihnik khaeah, Nam pa ih mikhmai ka khet naah, canghni ih baktiah om ai boeh, tiah ka panoek; toe kam pa ih Sithaw mah ang oh thuih poe.
6Chính hai ngươi cũng biết rằng ta đã giúp cha hai ngươi hết sức,
6Ka thacakhaih boih hoiah nam pa ih tok ka sak, tito nang panoek hoi.
7còn cha hai ngươi lại khinh bạc và mười lần thay đổi công giá ta; nhưng Đức Chúa Trời không cho phép người làm hại ta chút nào.
7Toe nam pa mah kai ang ling, ka toksakhaih atho doeh vai hato ang ling; toe kai pacaekthlaek hanah Sithaw mah pakaa pae.
8Khi người dạy rằng: Các con chiên có đốm dùng làm công giá ngươi, quả các con chiên đều sanh con ra có đốm. Còn nếu dạy rằng: Các con chiên có sọc dùng làm công giá ngươi, quả các con chiên đều sanh ra có sọc.
8Anih mah, aem kaom tuunawk loe na toksakhaih atho ah om nasoe, tiah a thuih, to naah tuunawk loe aem oh o boih; rong kangdaek tuunawk loe ka toksakhaih atho ah om nasoe, tiah a thuih, to naah doeh tuunawk loe rong kangdaek ah tapen boih.
9Thế thì, Đức Chúa Trời đã bắt súc vật của cha hai ngươi cho ta đó!
9To pongah Sithaw mah nam pa ih tuunawk to lak moe, kai han ang paek boeh.
10Đang trong lúc chiên giao hiệp nhau, ta nhướng mắt lên, chiêm bao thấy các chiên đực đang giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có rằn và có đốm.
10Tuunawk apa cuukhaih tue phak moe, ka khet naah, tuu taenawk loe aem kaom tuu amnonawk khaeah ni apa cuuk o, tiah amang ah ka hnuk.
11Thiên sứ Đức Chúa Trời phán cùng ta trong mộng rằng: Hãy Gia-cốp! Ta bèn thưa: Có tôi đây.
11Sithaw ih van kami mah amang ah kai khaeah, Jakob, tiah ang kawk. Kai mah, Haeah ka oh, tiah ka naa.
12Thiên sứ rằng: Hãy nhướng mắt lên mà nhìn: hết thảy chiên đực đang giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có rằn và có đốm; vì ta đã thấy cách La-ban ăn ở cùng ngươi rồi.
12To naah anih mah, Danh tahang ah, Tuu taenawk loe aem kaom, rong kangdaek tuu amnonawk khae khue ah ni apa cuuk o; Laban mah na nuiah sak ih hmuennawk to ka hnuk boih.
13Ta đây là Đức Chúa Trời của Bê-tên, tức nơi ngươi đã thoa dầu đầu cây trụ và đã khấn vái ta. Bây giờ, hãy đứng dậy, ra khỏi xứ nầy và trở về xứ của bà con ngươi.
13Kai loe thlung na thling moe, situi na bawh pacoengah, kai khaeah lokkamhaih na sak ih, Bethel hmuen ih Sithaw ah ka oh; vaihi angthawk ah, hae prae hae caehtaak ah loe, na caeng kaminawk ohhaih prae ah amlaem ah, tiah ang thuih, tiah a naa.
14Ra-chên và Lê-a đáp cùng người mà rằng: Chúng tôi còn một phần chi hay là cơ nghiệp chi nơi nhà cha chúng tôi chăng?
14To naah Rachel hoi Leah mah anih khaeah, Kam pa im ah kaihnik mah toep han koi qawk hoi taham timaw ka tawn hoi?
15Vì người đã gả bán chúng tôi và ăn xài hết tiền bạc bán nữa, há người chẳng đãi chúng tôi như người dưng ư?
15Kaihnik hae prae kalah kami ah a poek, kaihnik hae zawh khue ai ah, kaihnik han paek tangcae hmuen mataeng doeh ang patoh pae king na ai maw?
16Các tài vật mà Đức Chúa Trời đoạt nơi tay cha chúng tôi tức là của chúng tôi và của con cái chúng tôi. Vậy bây giờ, chàng hãy làm theo mọi lời Đức Chúa Trời đã phán dạy.
16Pa khae hoi Sithaw mah lak ih hmuennawk boih loe, aicae hoi aimacae caanawk ih hmuen ah ni oh boeh; to pongah vaihi Sithaw mah ang thuih ih baktih toengah sah ah, tiah a naa hoi.
17Gia-cốp bèn đứng dậy, đỡ vợ và con lên lưng lạc đà,
17To pacoengah Jakob loe angthawk moe, a caanawk hoi a zu hnik to kaengkuu hrang nuiah angthuengsak.
18dẫn hết thảy súc vật và của cải mình, tức súc vật mình đã gây dựng ở Pha-đan-A-ram, đặng trở về cùng Y-sác, cha mình, ở Ca-na-an.
18Padan Aram ah oh naah, a hak ih hmuennawk boih, pacah ih moinawk to a hoih boih moe, ampa Issak ohhaih Kanaan prae ah caeh o.
19Trong lúc La-ban mắc đi hớt lông chiên người, thì Ra-chên ăn cắp các pho tượng thờ trong nhà của cha mình.
19Laban loe angmah ih tuu amui aah hanah caeh, to naah Rachel mah sakcop ih ampa imthung ih sithaw krangnawk to paquk pae ving.
20Gia-cốp gạt La-ban, vì không nói rằng, mình muốn đi trốn.
20Jakob mah ka cawnh ving han boeh, tiah thui pae ai, Syria kami Laban to tamquta hoiah a caehtaak.
21Vậy, người đứng dậy, đem theo hết thảy tài vật mình, trốn đi ngang qua sông, thẳng tuốt về núi Ga-la-át.
21To pongah anih loe a tawnh ih hmuennawk boih hoiah a cawnh; angthawk moe, vapui angkat o pacoengah, Gilead mae bangah a caeh o.
22Đến ngày thứ ba, người ta học lại cùng La-ban rằng Gia-cốp đã trốn đi rồi.
22Jakob cawnh ving boeh, tito Laban mah ni thumto naah thaih.
23Người bèn đem các anh em mình đuổi theo Gia-cốp trong bảy ngày đường, và theo kịp tại núi Ga-la-át.
23Angmah ih nawkamyanawk to kawk moe, ni sarihto thung anih to patom o, anih to Gilead maeah kae o.
24Nhưng trong cơn chiêm bao lúc ban đêm, Đức Chúa Trời đến cùng La-ban, người A-ram, mà phán rằng: Dầu lành dầu dữ, thế nào ngươi khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.
24Syria kami Laban ih amang ah Sithaw to amtueng pae; Jakob khaeah kasae doeh kahoih doeh, lokthuih han ai ah acoe ah, tiah a naa.
25Vậy, La-ban theo kịp Gia-cốp. Vả, Gia-cốp đang đóng trại trên núi; La-ban và các anh em người cũng đóng trại trên núi Ga-la-át.
25Laban mah nihcae to kae naah, Jakob loe Gilead mae ah kahni im a sak boeh; Laban hoi angmah ih nawkamyanawk doeh Gilead mae ah im to sak o.
26La-ban nói cùng Gia-cốp rằng: Cháu đã làm chi vậy? Cháu đã gạt cậu và dẫn mấy đứa gái cậu như phu tù giặc.
26Laban mah Jakob khaeah, Tipongah hae tiah na oh loe? Kai hae nang ling moe, ka canu hnik doeh misa mah sumsen hoi pahuem moe, naeh ih kami baktiah, na caeh haih ving loe?
27Sao trốn nhẹm, gạt và không cho cậu hay trước? Có lẽ cậu đưa đi rất vui vẻ, tiếng hát, tiếng đàn và tiếng trống phụ đưa.
27Tipongah kai nang ling moe, tamquta hoi na cawnh ving loe? Nang thuih soe nahaeloe, anghoehaih laa to sak moe, cingceng bohhaih, katoeng kruekhaih hoiah kang prawt han bae, tikhoe nang thui ai loe? tiah a naa.
28Cháu làm cách dại dột vậy, không để cho cậu hôn con trai và con gái cậu.
28Tipongah ka caanawk hoi ka canunawk doeh nang moksak ai loe? Amthuhaih hoiah ni hae hmuen hae na sak.
29Tay cậu có đủ quyền làm hại cháu; nhưng Đức Chúa Trời của cha cháu đã mách bảo cùng cậu tối hôm qua rằng: Dầu lành dầu dữ, ngươi khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.
29Nang han nganbawh kana kang paek thaih; toe cangduem aqum ah nam pa ih Sithaw mah kai khaeah, Kahoih doeh kasae doeh, Jakob khae lokthuih han ai ah acoe ah, tiah ang thuih pongah ni.
30Bây giờ, vì lòng cháu mong mỏi về nhà cha cháu, nên đã ra đi; nhưng cớ sao cháu lại ăn cắp các pho tượng cậu?
30Vaihi loe nam pa im to na poek boeh pongah, na caeh han angaih boeh; tikhoe kai ih sithawnawk to na paquk loe? tiah a naa.
31Gia-cốp đáp rằng: Vì cớ tôi e cậu bắt hai người con gái lại chăng.
31Jakob mah Laban khaeah, Na canu hnik hae tha hoi nang lomh ving tih, tiah ka poek moe, ka zit pong ni, tiah a naa.
32Nhưng tìm nơi ai được các pho tượng của cậu, thì ai đó sẽ bị chết đi! Tại trước mặt các anh em chúng ta, cậu hãy kiểm soát các món nơi tôi đi, và hãy lấy vật chi thuộc về cậu. Vả, Gia-cốp vốn không hay rằng Ra-chên đã trộm mấy pho tượng đó.
32Toe nang ih sithaw paqu kami na hnuk nahaeloe, anih to hing hmah nasoe; nang ih hmuen ka lak o moeng nahaeloe, aicae nawkamyanawk hmaa roe ah la ah, tiah a naa. Toe Rachel mah sakcop ih sithawnawk paquk pae ving, tito Jakob mah panoek ai.
33Vậy, La-ban vào trại Gia-cốp, trại Lê-a, trại hai người đòi, chẳng tìm được chi cả. Đoạn, ở trại Lê-a bước ra đi vào trại Ra-chên.
33To pongah Laban loe Jakob ih kahni im, Leah ih kahni im hoi anih ih tamna nongpata hnik ih kahni imthung ah akunh, toe tidoeh hnu ai; Leah ih kahni imthung hoi tacawt pacoengah, Rachel ih kahni imthung ah akun let.
34Vả, Ra-chên có lấy mấy pho tượng đó, giấu dưới bành lạc đà, rồi ngồi lên trên. La-ban soát lục khắp trại chẳng gặp pho tượng.
34Rachel mah ampa imthung ih sithawnawk to lak moe, kaengkuu khrang khukhaih kahni thungah pacaeng, to pacoengah a nuiah anghnut thuih khoep. Laban loe kahni imthung ih hmuennawk to pakrong boih, toe tidoeh hnu ai.
35Nàng bèn thưa cùng cha rằng: Vì trong mình con có việc riêng của đàn bà, nên đứng dậy rước chẳng được; xin chúa chớ giận con chi hết. Người kiếm, nhưng chẳng thấy pho tượng đâu hết.
35Rachel mah ampa khaeah, Ka angraeng, na hmaa ah kangdoe thai ai pongah palungphuisak hmah; athii ka hnuk pongah ni, tiah a naa. Anih loe sakcop ih krangnawk to pakrong, toe hnu ai.
36Gia-cốp bèn nổi giận rầy lộn cùng La-ban, mà rằng: Tôi có án gì, tội gì, mà cậu hằm hằm đuổi theo như vậy!
36To naah Jakob loe palungphui moe, Laban to zoeh; tih sakpazaehaih maw ka tawnh? Tih zaehaih maw ka sak moe, nang patom? tiah a naa.
37Cậu đã soát lục các đồ hành lý tôi, có kiếm được món chi thuộc về nhà cậu chăng? Hãy đem món đó ra trước mặt anh em tôi cùng anh em cậu, đặng họ xét đoán đôi ta.
37Kai ih hmuennawk to na pakrong boih boeh; na imthung ih hmuen timaw na hnuk? Nam nawk amyanawk hoi kai ih kaminawk hmaa ah suem ah, mi maw katoeng, tito nihcae mah aihnik salakah lokcaek nasoe.
38Kìa, đã hai mươi năm tôi ăn ở nơi nhà cậu, chiên cùng dê cậu nào có sảo thai, và tôi chẳng hề ăn thịt chiên đực của bầy cậu bao giờ;
38Nang khaeah saning pumphaeto ka oh; nang ih tuunawk hoi maehnawk a caa zun o vai ai; nang ih tuu tae maeto mataeng doeh ka caa vai ai.
39cũng chẳng hề đem về cho cậu một con nào bị xé; bằng có, chính tôi chịu đền đó thôi. Cậu cớ đòi luôn những con bị ăn cắp ban ngày và ăn trộm ban đêm.
39Nang ih tuunawk to moisannawk mah kaek vai ai; kanghmaa tuu to kai mah ka rong; khoving ah maw, khodai ah maw, tuunawk anghmat naah kai khaeah atho nang suk.
40Ban ngày tôi chịu nắng nồng, ban đêm chịu lạnh lùng, ngủ nào có an giấc được đâu.
40To tiah kho ka sak; khodai ah ni kabae mah ang dawk moe, khoving ah kangqai mah ang koep; iih boep ai ah to tiah kho ka sak.
41Đó trong hai mươi năm tôi ở tại nhà cậu là thế; trong mười bốn năm giúp việc, để được hai con gái cậu, và sáu năm đặng lãnh lấy bầy súc vật của cậu, mà cậu lại còn thay đổi mười lần công giá tôi.
41To tiah na im ah saning pumphaeto thung ka oh; na canu hnik hanah saning hatlai palito thung tok kang sak pae moe, saning tarukto thung na pacah ih moinawk to kang toep pae, ka toksakhaih atho vai hato nang ling.
42Nếu Đức Chúa Trời của cha tôi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, là Đấng mà Y-sác kính sợ, không phù hộ tôi, chắc bây giờ cậu đuổi tôi ra tay không, Đức Chúa Trời đã xem thấy nỗi đau-khổ tôi cùng công việc hai tay tôi làm, nên đêm qua Ngài đã xét công bình rồi đó.
42Kai khaeah kam pa ih Sithaw, Abraham ih Sithaw, Issak mah zit ih Sithaw om ai nahaeloe, bangkrai ah ni nang patoeh tangtang tih; toe Sithaw mah patangkhanghaih hoi ka ban mah sak ih tok to ang hnuk pae pongah ni, cangduem qum ah nang to ang thuitaek, tiah a naa.
43La-ban đáp cùng Gia-cốp mà rằng: Các đứa gái nầy là con của cậu; các đứa trẻ nầy là trẻ của cậu; các bầy súc vật tức là bầy của cậu, và các vật chi cháu thấy được tức của cậu hết; ngày nay cậu sẽ làm chi được cùng các con gái hai là các cháu cậu đó?
43Laban mah Jakob khaeah, Hae nongpata hnik loe ka canu ni; hae nawktanawk doeh ka caa ni, hae ih moinawk doeh kai ih ni; na hnuk ih hmuennawk boih doeh kai ih ni; toe vaihniah ka canu hnik hoi nihnik mah sak hoi ih caanawk doeh kawbang maw ka naa thai tih boeh?
44Vậy bây giờ, hè! chúng ta kết-ước cùng nhau, để dùng làm chứng cho cậu và cháu.
44To pongah vaihi angzo ah loe, nang hoi kai salakah lokmaihaih to sah si; to lokmaihaih loe nang hoi kai salakah hnukung ah om nasoe, tiah a naa.
45Gia-cốp lấy một hòn đá, dựng đứng lên làm trụ;
45To pongah Jakob mah thlung to lak moe, tung ah a thling.
46và nói cùng các anh em mình rằng: Hãy lượm góp đá lại. Chúng bèn góp đá lại, chất thành một đống, rồi ngồi lên trên ăn bữa.
46Jakob mah angmah ih nawkamyanawk khaeah, Thlung to a laksak; nihcae mah thlung to sinh pae o moe, pakhueng o pacoengah, pakhueng ih thlung nuiah buh a caak o.
47La-ban đặt trên đống đá đó là Y-ê-ga Sa-ha-đu-ta; còn Gia-cốp kêu là Ga-lét.
47To a hmuen to Laban mah Jegar Sahadutha, tiah ahmin paek; toe Jakob mah loe Galeed, tiah ahmin sak.
48La-ban nói rằng: Đống đá nầy ngày nay làm chứng cho cậu và cháu đó. Cho nên chúng gọi là Ga-lét.
48Laban mah, Vaihniah haeah pakhueng ih thlung loe nang hoi kai hnukung ah oh boeh, tiah a naa. To pongah to ahmuen to Galeed, tiah kawk o.
49Mà cũng gọi là Mích-ba, vì La-ban có nói thêm rằng: Khi chúng ta phân cách nhau, cầu xin Đức Giê-hô-va coi sóc cậu và cháu.
49Aihnik loe maeto hoi maeto kangthla ah oh hoi naah doeh, Sithaw mah toep poe nasoe, tiah a thuih pongah, Mizpah, tiah doeh kawk o.
50Nếu cháu hành hạ các con gái cậu, nếu cưới vợ khác nữa, thì hãy giữ mình! Chẳng phải người thường soi xét ta đâu, bèn là Đức Chúa Trời làm chứng cho chúng ta vậy.
50Nang mah ka canu hnik hae pacaekthlaek maw, to ai boeh loe ka canu hnik nuiah zu kalah na lak tak ving cadoeh, mi mah doeh aicae hae hnu ai; toe Sithaw loe aihnik salakah hnukung ah oh, tito pahnet hmah, tiah a naa.
51La-ban lại nói cùng Gia-cốp rằng: Nầy đống đá, nầy cây trụ mà cậu đã dựng lên giữa cậu và cháu đây.
51To pacoengah Laban mah Jakob khaeah, Khenah, kai hoi nang salakah sak ih, haeah pakhueng ih thlung hoi tung ah thling ih thlung hae oh.
52Đống đá nầy và cây trụ nầy làm chứng rằng cậu chẳng qua khỏi đây, đi đến nơi cháu, và cháu cũng chẳng vượt khỏi đây, đi đến nơi cậu, trong khi có ý muốn làm hại nhau.
52Haeah tapop ih thlung loe hnukung ah oh moe, haeah thling ih thlung doeh hnukung ah oh; nang nganbawh kana paek hanah, haeah tapop ih thlung hae ka poeng mak ai; nangmah doeh kai nganbawh kana paek hanah, haeah tapop ih thlung hae poeng hmah.
53Cầu xin Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Na-cô, Đức Chúa Trời của cha các người đó đoán xét cho chúng ta! Gia-cốp chỉ Đấng của Y-sác, cha mình, kính sợ mà thề.
53Abraham Sithaw, Nahor Sithaw, nihnik ampa ih Sithaw mah aihnik salakah lok takroek nasoe, tiah a naa. To pongah Jakob loe ampa Issak mah zit ih Sithaw ih ahmin hoiah lokmaihaih to a sak.
54Đoạn, người dâng một của lễ tại trên núi, và mời các anh em mình dùng bánh. Vậy, chúng dùng bánh, rồi ở ban đêm trên núi.
54Jakob loe to ih mae nuiah angbawnhaih to sak moe, buhcaak hanah angmah ih nawkamyanawk to kawk; nihcae loe buhcaak o moe, mae nuiah aqum puek oh o.
55La-ban dậy sớm, hôn các con trai và các con gái mình, và chúc phước cho, rồi đi trở về nhà mình.
55Laban loe khawnbang khawnthaw ah angthawk moe, a caanawk hoi a canu hnik to mok pacoengah, nihcae to tahamhoihaih a paek. To pacoengah a ohhaih ahmuen ah amlaem.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.