Sáng 25
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Aùp-ra-ham cưới một người vợ khác, tên là Kê-tu-ra.
1Abraham loe zu maeto lak let, anih ih ahmin loe Keturah.
2Người sanh cho Aùp-ra-ham Xim-ram, Giốc-chan, Mê-đan, Ma-đi-an, Dích-bác và Su-ách.
2Anih mah Zimran, Jokshan, Medan, Median, Ishbak hoi Shuah to sak pae.
3Giốc-chan sanh Sê-ba và Đê-đan; con cháu của Đê-đan là họ A-chu-rim, họ Lê-tu-chim và họ Lê-um-mim.
3Jokshan mah Sheba hoi Dedan to sak. Dedan ih caanawk loe Asshur kaminawk, Letush kaminawk hoi Leum kaminawk ah oh o.
4Con trai của Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Ha-nóc, A-bi-đa và Eân-đa. Các người trên đây đều là dòng dõi của Kê-tu-ra.
4Midian caanawk loe Ephah, Epher, Hanok, Abidah hoi Eldaah. Hae kaminawk boih loe Keturah mah sak ih caanawk ah oh o.
5Aùp-ra-ham cho Y-sác hết thảy gia tài mình; còn cho các con dòng thứ những tiền của;
5Abraham loe a tawnh ih hmuennawk boih Issak hanah paek.
6rồi, khi còn sống, người sai họ qua đông phương mà ở, cách xa con dòng chánh, là Y-sác.
6Toe a hing naah angmah zula ih caanawk hanah tangqumnawk to a paek moe, nihcae to a capa Issak hma hoi ni angyae bangah patoeh boih.
7Aùp-ra-ham hưởng thọ được một trăm bảy mươi lăm tuổi;
7Abraham loe mitong boeh moe, saning cumvai qui sarih, pangato hing.
8người tuổi cao tác lớn và đã thỏa về đời mình, tắt hơi, được qui về nơi tổ tông.
8To tiah mitong moe, hinghaih qui apet pacoengah a duek, to pacoengah angmah ih kaminawk khaeah caeh.
9Hai con trai người, Y-sác và ỗch-ma-ên, chôn người trong hang đá Mặc-bê-la tại nơi đồng của Eùp-rôn, con trai Sô-ha, người Hê-tít, nằm ngang Mam-rê.
9A caa Issak hoi Ishmael mah Mamre vangpui pha ai nathuem ih, Hit kami Zohar capa Ephron ih lawk thungah kaom, Makpelah thlung khaw thungah aphum hoi.
10Aáy là cái đồng mà lúc trước Aùp-ra-ham mua lại của dân họ Hếch; nơi đó họ chôn Aùp-ra-ham cùng Sa-ra, vợ người.
10To lawk loe Abraham mah Hit kaminawk khaeah qanh; Abraham hoi a zu Sarah loe to ahmuen ah aphum hoi hmaek.
11Sau khi Aùp-ra-ham qua đời, Đức Giê-hô-va ban phước cho Y-sác con trai người. Y-sác ở gần bên cái giếng La-chai-Roi.
11Abraham duek pacoengah, Sithaw mah Issak to tahamhoihaih paek; Issak loe Beer Lahai Roi taengah khosak.
12Đây là dòng dõi của ỗch-ma-ên, con trai của Aùp-ra-ham, do nơi nàng A-ga, người Ê-díp-tô, con đòi của Sa-ra, đã sanh.
12Sarah ih tamna Izip tanuh, Hagar mah Abraham han sak pae ih, Abraham capa Ishmael ih caanawk kawng loe hae tiah oh.
13Và đây là tên các con trai của ỗch-ma-ên, sắp thứ tự theo ngày ra đời: Con trưởng nam của ỗch-ma-ên là Nê-ba-giốt; kế sau Kê-đa, Aùt-bê-ên, Mi-bô-sam,
13Ishmael caanawk ih ahmin loe, angmacae acaeng anghumhaih ahmin baktih toengah, calu ah Nebajoth, Keder, Adbeel, Mibsam;
14Mích-ma, Đu-ma, Ma-sa,
14Mishma, Dumah, Massa,
15Ha-đa, Thê-ma, Giê-thu, Na-phích, và Kết-ma.
15Hadar, Tema, Jetur, Naphish hoi Kedemah;
16Đó là các con trai của ỗch-ma-ên và tên của họ tùy theo làng và nơi đóng trại mà đặt. Aáy là mười hai vị công hầu trong dân tộc của họ.
16hae kaminawk loe Ishmael ih caa ah oh o, to tiah ahmin kaom kaminawk loe, angmacae ih vangpui, angmacae misa abuephaih baktih toengah, acaeng hatlai hnetto ukkung ah oh o roep.
17ỗch-ma-ên hưởng thọ được một trăm ba mươi bảy tuổi, rồi tắt hơi mà qua đời, được qui về nơi tổ tông.
17Ishamael loe saning cumvai qui thum, sarihto hing; a hinghaih qui apet moe, duek pacoengah, angmah ih kaminawk khaeah angkuem.
18Dòng dõi người ở trước mặt anh em mình, từ Ha-vi-la cho đến Xu-xơ, đối ngang Ê-díp-tô, chạy qua A-si-ri.
18Anih ih caanawk loe Assyria prae caehhaih loklam, Havilah hoi Izip prae ni angyae bang ih Shur vangpui khoek to khosak o; anih loe angmah ih nawkamyanawk boih hma ah duek.
19Đây là dòng dõi của Y-sác, con trai Aùp-ra-ham. Aùp-ra-ham sanh Y-sác.
19Abraham capa, Issak kawng loe hae tiah oh; Abraham mah Issak to sak;
20Vả, khi Y-sác được bốn mươi tuổi, thì cưới Rê-be-ca, con gái của Bê-tu-ên và em gái của La-ban, đều là dân A-ram, ở tại xứ Pha-đan-A-ram.
20Issak loe Padan Aram ahmuen ah kaom, Syria acaeng Bethuel ih canu, Syria acaeng Laban ih tanuh, Rebekah to zu ah lak naah, saning qui palito oh boeh.
21Y-sác khẩn cầu Đức Giê-hô-va cho vợ mình, vì nàng son sẻ. Đức Giê-hô-va cảm động lời khẩn cầu đó, nên cho Rê-be-ca thọ thai.
21A zu loe caa kaak pongah, Issak mah a zu hanah Angraeng khaeah lawkthuih pae; Angraeng mah lawkthuihaih lok to tahngaih pae pongah, a zu Rebekah loe zokpomh.
22Nhưng vì thai đôi làm cho đụng nhau trong bụng, thì nàng nói rằng: Nếu quả thật vậy, cớ sao đều nầy xảy đến làm chi? Đoạn nàng đi hỏi Đức Giê-hô-va.
22A zok thung ih nawkta loe maeto hoi maeto ang-et hoi khing; to naah amno mah, Tipongah hae tiah oh vai? tiah poek. To pongah lokdueng hanah Angraeng khaeah a caeh.
23Đức Giê-hô-va phán rằng: Hai nước hiện ở trong bụng ngươi, và hai thứ dân sẽ do lòng ngươi mà ra; dân nầy mạnh hơn dân kia, và đứa lớn phải phục đứa nhỏ.
23Angraeng mah anih khaeah, Na zok thungah kami acaeng hnetto oh; na zok thung hoiah tuinuen kalah acaeng hnetto tacawt tih; acaeng maeto loe kalah acaeng maeto pongah thacak kue ueloe, kacoeh mah kanawk ih tok to sah pae tih, tiah a naa.
24Đến ngày nàng phải sanh nở, nầy hai đứa sanh đôi trong bụng nàng ra.
24Nawkta zahhaih tue phak naah, anih zok thung ih nawkta loe angphae.
25Đứa ra trước đỏ hồng, lông cùng mình như một áo tơi lông; đặt tên là Ê-sau.
25Tacawt hmaloe loe ngan to thim dung, a tak loe amui cing ah oh; to pongah anih to Esau, tiah ahmin phui.
26Kế em nó lại ra sau, tay nắm lấy gót Ê-sau; nên đặt tên là Gia-cốp. Khi sanh hai đứa con nầy thì Y-sác đã được sáu mươi tuổi.
26To pacoengah amnawk to tapen; a ban hoiah Esau ih khok tahmawh to patawnh; to pongah anih to Jakob, tiah ahmin sak; Rebakah mah nihnik to sak naah, Issak loe saning qui tarukto oh boeh.
27Khi hai đứa trai nầy lớn lên, thì Ê-sau trở nên một thợ săn giỏi, thường giong ruổi nơi đồng ruộng; còn Gia-cốp là người hiền lành cứ ở lại trại.
27Nawkta hnik loe qoeng hoi tahang, Esau loe moi kat kop kami, moi zoep thaih kami ah oh; toe Jakob loe kaom duem kami ah oh moe, kahni imthung ah oh.
28Y-sác yêu Ê-sau, vì người có tánh ưa ăn thịt rừng; nhưng Rê-be-ca lại yêu Gia-cốp.
28Issak loe taw ih moi to caak pongah Esau to palung, toe Rebekah mah loe Jakob to palung.
29Một ngày kia, Gia-cốp đang nấu canh, Ê-sau ở ngoài đồng về lấy làm mệt mỏi lắm;
29Nito naah loe Jakob mah caak koi maeto thongh, to naah Esau loe taw hoiah angzoh moe, zok amthlam parai pongah,
30liền nói cùng Gia-cốp rằng: Em hãy cho anh ăn canh gì đỏ đó với, vì anh mệt mỏi lắm. Bởi cớ ấy, người ta gọi Ê-sau là Ê-đôm.
30Esau mah Jakob khaeah, Na thongh ih kamling huep caak koi to na paek thoem ah, zok amthlam parai boeh, tiah a naa. To pongah anih ih ahmin to Edom, tiah sak.
31Gia-cốp đáp rằng: Nay anh hãy bán quyền trưởng nam cho tôi đi.
31To naah Jakob mah, Calu ah na ohhaih to vaihniah kai khaeah na zaw ah, tiah a naa.
32Ê-sau đáp rằng: Nầy, anh gần thác, quyền trưởng nam để cho anh dùng làm chi?
32To naah Esau mah, Khenah, ka duek tom boeh; calu ah ohhaih loe timaw atho oh? tiah a thuih.
33Gia-cốp đáp lại rằng: Anh hãy thề trước đi. Người bèn thề; vậy, người bán quyền trưởng nam cho Gia-cốp.
33Jakob mah vaihniah kai khaeah lokkamhaih sah ah, tiah a naa. Esau mah anih khaeah lokkamhaih sak pacoengah, calu ah ohhaih to Jakob khaeah a zawh.
34Rồi, Gia-cốp cho Ê-sau ăn bánh và canh phạn đậu; ăn uống xong, người bèn đứng dậy đi. Vậy, Ê-sau khinh quyền trưởng nam là thế.
34To pacoengah Jakob mah takaw hoi peh to Esau hanah paek; anih mah caak moe, naek pacoengah, angthawk moe, a caeh. To tiah Esau mah calu ah ohhaih to khet patoek.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.