Sáng
Chapter 31
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Daničić–Karadžić B…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Gia-cốp được nghe lời các con La-ban nói rằng: Gia-cốp đã lấy hết gia tài cha ta, và vì nhờ của cha ta, nên mới được giàu có dường ấy.
1А Јаков чу где синови Лаванови говоре: Јаков узе све што беше нашег оца, и од оног што беше нашег оца стече све ово благо.
2Gia-cốp cũng để ý coi nét mặt cậu, nhận biết rằng người chẳng đối ở với mình như trước nữa.
2И виде Јаков где лице Лаваново није према њему као пре.
3Đức Giê-hô-va phán cùng Gia-cốp rằng: Hãy trở về xứ của tổ phụ ngươi, chốn bà con ngươi, ta sẽ phù hộ ngươi.
3И Господ рече Јакову: Врати се у земљу отаца својих и у род свој, и ја ћу бити с тобом.
4Gia-cốp bèn sai người gọi Ra-chên và Lê-a đến nơi cầm bầy súc vật của mình ngoài đồng,
4И пославши Јаков дозва Рахиљу и Лију у поље к стаду свом.
5và nói cùng họ rằng: Ta thấy sắc mặt cha hai ngươi đối cùng ta chẳng còn như trước nữa, nhưng nhờ Đức Chúa Trời của cha ta phù hộ ta.
5И рече им: Видим где лице оца вашег није према мени као пре; али је Бог оца мог био са мном.
6Chính hai ngươi cũng biết rằng ta đã giúp cha hai ngươi hết sức,
6И ви знате да сам служио оцу вашем како сам год могао;
7còn cha hai ngươi lại khinh bạc và mười lần thay đổi công giá ta; nhưng Đức Chúa Trời không cho phép người làm hại ta chút nào.
7а отац ме је ваш варао и мењао ми плату десет пута; али му Бог не даде да ме оштети;
8Khi người dạy rằng: Các con chiên có đốm dùng làm công giá ngươi, quả các con chiên đều sanh con ra có đốm. Còn nếu dạy rằng: Các con chiên có sọc dùng làm công giá ngươi, quả các con chiên đều sanh ra có sọc.
8кад он рече: Шта буде шарено нека ти је плата, онда се младило све шарено; а кад рече: С белегом шта буде нека ти је плата, онда се младило све с белегом.
9Thế thì, Đức Chúa Trời đã bắt súc vật của cha hai ngươi cho ta đó!
9Тако Бог узе стоку оцу вашем и даде је мени;
10Đang trong lúc chiên giao hiệp nhau, ta nhướng mắt lên, chiêm bao thấy các chiên đực đang giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có rằn và có đốm.
10јер кад се упаљиваше стока, подигох очи своје и видех у сну, а то овнови и јарци што скачу на овце и козе беху шарени, с белегама прутастим и коластим.
11Thiên sứ Đức Chúa Trời phán cùng ta trong mộng rằng: Hãy Gia-cốp! Ta bèn thưa: Có tôi đây.
11А анђео Господњи рече ми у сну: Јакове! А ја одговорих: Ево ме.
12Thiên sứ rằng: Hãy nhướng mắt lên mà nhìn: hết thảy chiên đực đang giao hiệp cùng chiên cái đều có sọc, có rằn và có đốm; vì ta đã thấy cách La-ban ăn ở cùng ngươi rồi.
12А он рече: Подигни сад очи своје и гледај, овнови и јарци што скачу на овце и козе, шарени су, с белегама прутастим и коластим; јер видех све што ти чини Лаван.
13Ta đây là Đức Chúa Trời của Bê-tên, tức nơi ngươi đã thoa dầu đầu cây trụ và đã khấn vái ta. Bây giờ, hãy đứng dậy, ra khỏi xứ nầy và trở về xứ của bà con ngươi.
13Ја сам Бог од Ветиља, где си прелио камен и учинио ми завет; устани сада и иди из ове земље, и врати се на постојбину своју.
14Ra-chên và Lê-a đáp cùng người mà rằng: Chúng tôi còn một phần chi hay là cơ nghiệp chi nơi nhà cha chúng tôi chăng?
14Тада одговори Рахиља и Лија, и рекоше му: Еда ли још имамо какав део и наследство у дому оца свог?
15Vì người đã gả bán chúng tôi và ăn xài hết tiền bạc bán nữa, há người chẳng đãi chúng tôi như người dưng ư?
15Није ли нас држао као туђинке кад нас је продао? Па је још и наше новце једнако јео.
16Các tài vật mà Đức Chúa Trời đoạt nơi tay cha chúng tôi tức là của chúng tôi và của con cái chúng tôi. Vậy bây giờ, chàng hãy làm theo mọi lời Đức Chúa Trời đã phán dạy.
16Јер све ово благо што узе Господ оцу нашем, наше је и наше деце. Зато чини све што ти је Господ казао.
17Gia-cốp bèn đứng dậy, đỡ vợ và con lên lưng lạc đà,
17И подиже се Јаков, и метну децу своју и жене своје на камиле;
18dẫn hết thảy súc vật và của cải mình, tức súc vật mình đã gây dựng ở Pha-đan-A-ram, đặng trở về cùng Y-sác, cha mình, ở Ca-na-an.
18и одведе сву стоку своју и све благо што беше стекао, стоку коју беше стекао у Падан-Араму, и пође к Исаку оцу свом у земљу хананску.
19Trong lúc La-ban mắc đi hớt lông chiên người, thì Ra-chên ăn cắp các pho tượng thờ trong nhà của cha mình.
19А Лаван беше отишао да стриже овце своје; и Рахиља украде идоле оцу свом.
20Gia-cốp gạt La-ban, vì không nói rằng, mình muốn đi trốn.
20И Јаков отиде крадом од Лавана Сирина не јавивши му да хоће да иде.
21Vậy, người đứng dậy, đem theo hết thảy tài vật mình, trốn đi ngang qua sông, thẳng tuốt về núi Ga-la-át.
21И побеже са свим благом својим, и подиже се те пређе преко воде, и упути се ка гори Галаду.
22Đến ngày thứ ba, người ta học lại cùng La-ban rằng Gia-cốp đã trốn đi rồi.
22А трећи дан јавише Лавану да је побегао Јаков.
23Người bèn đem các anh em mình đuổi theo Gia-cốp trong bảy ngày đường, và theo kịp tại núi Ga-la-át.
23И узе са собом браћу своју, и пође за њим у потеру, и за седам дана стиже га на гори Галаду.
24Nhưng trong cơn chiêm bao lúc ban đêm, Đức Chúa Trời đến cùng La-ban, người A-ram, mà phán rằng: Dầu lành dầu dữ, thế nào ngươi khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.
24Али Бог дође Лавану Сирину ноћу у сну, и рече му: Чувај се да не говориш с Јаковом ни лепо ни ружно.
25Vậy, La-ban theo kịp Gia-cốp. Vả, Gia-cốp đang đóng trại trên núi; La-ban và các anh em người cũng đóng trại trên núi Ga-la-át.
25И стиже Лаван Јакова; а Јаков беше разапео шатор свој на гори, па и Лаван такође разапе свој с браћом својом на гори Галаду.
26La-ban nói cùng Gia-cốp rằng: Cháu đã làm chi vậy? Cháu đã gạt cậu và dẫn mấy đứa gái cậu như phu tù giặc.
26И Лаван рече Јакову: Шта учини те крадом побеже од мене и одведе кћери моје као на мач отете?
27Sao trốn nhẹm, gạt và không cho cậu hay trước? Có lẽ cậu đưa đi rất vui vẻ, tiếng hát, tiếng đàn và tiếng trống phụ đưa.
27Зашто тајно побеже и крадом отиде од мене? Нити ми рече да те испратим с весељем и с песмама, с бубњевима и гуслама?
28Cháu làm cách dại dột vậy, không để cho cậu hôn con trai và con gái cậu.
28Нити ми даде да изљубим синове своје и кћери своје? Лудо си радио.
29Tay cậu có đủ quyền làm hại cháu; nhưng Đức Chúa Trời của cha cháu đã mách bảo cùng cậu tối hôm qua rằng: Dầu lành dầu dữ, ngươi khá giữ mình đừng nói chi cùng Gia-cốp hết.
29Могао бих вам досадити; али Бог оца вашег ноћас ми рече говорећи: Чувај се да не говориш с Јаковом ни лепо ни ружно.
30Bây giờ, vì lòng cháu mong mỏi về nhà cha cháu, nên đã ra đi; nhưng cớ sao cháu lại ăn cắp các pho tượng cậu?
30Иди дакле кад си се тако ужелео куће оца свог; али зашто украде богове моје?
31Gia-cốp đáp rằng: Vì cớ tôi e cậu bắt hai người con gái lại chăng.
31А Јаков одговори и рече: Бојах се и мишљах хоћеш силом отети кћери своје од мене.
32Nhưng tìm nơi ai được các pho tượng của cậu, thì ai đó sẽ bị chết đi! Tại trước mặt các anh em chúng ta, cậu hãy kiểm soát các món nơi tôi đi, và hãy lấy vật chi thuộc về cậu. Vả, Gia-cốp vốn không hay rằng Ra-chên đã trộm mấy pho tượng đó.
32А богове своје у кога нађеш, онај нека не живи више; пред нашом браћом тражи шта је твоје у мене, па узми. Јер Јаков није знао да их је украла Рахиља.
33Vậy, La-ban vào trại Gia-cốp, trại Lê-a, trại hai người đòi, chẳng tìm được chi cả. Đoạn, ở trại Lê-a bước ra đi vào trại Ra-chên.
33И уђе Лаван у шатор Јаковљев и у шатор Лијин и у шатор двеју робиња, и не нађе их; и изашав из шатора Лијина уђе у шатор Рахиљин.
34Vả, Ra-chên có lấy mấy pho tượng đó, giấu dưới bành lạc đà, rồi ngồi lên trên. La-ban soát lục khắp trại chẳng gặp pho tượng.
34А Рахиља узе идоле и сакри их под самар камиле своје и седе озго; и Лаван пипаше по целом шатору, и не нађе.
35Nàng bèn thưa cùng cha rằng: Vì trong mình con có việc riêng của đàn bà, nên đứng dậy rước chẳng được; xin chúa chớ giận con chi hết. Người kiếm, nhưng chẳng thấy pho tượng đâu hết.
35А она рече оцу свом: Немој се срдити, господару, што ти не могу устати, јер ми је шта у жена бива. Траживши дакле не нађе идоле своје.
36Gia-cốp bèn nổi giận rầy lộn cùng La-ban, mà rằng: Tôi có án gì, tội gì, mà cậu hằm hằm đuổi theo như vậy!
36И Јаков се расрди, и стаде корити Лавана, и говорећи рече му: Шта сам учинио, шта сам скривио, те си ме тако жестоко терао?
37Cậu đã soát lục các đồ hành lý tôi, có kiếm được món chi thuộc về nhà cậu chăng? Hãy đem món đó ra trước mặt anh em tôi cùng anh em cậu, đặng họ xét đoán đôi ta.
37Пипао си сав пртљаг мој, па шта си нашао из своје куће? Дај овамо пред моју и своју браћу, нека расуде између нас двојице.
38Kìa, đã hai mươi năm tôi ăn ở nơi nhà cậu, chiên cùng dê cậu nào có sảo thai, và tôi chẳng hề ăn thịt chiên đực của bầy cậu bao giờ;
38Ево двадесет година бих код тебе: овце твоје и козе твоје не јаловише се, а овнова из стада твог не једох.
39cũng chẳng hề đem về cho cậu một con nào bị xé; bằng có, chính tôi chịu đền đó thôi. Cậu cớ đòi luôn những con bị ăn cắp ban ngày và ăn trộm ban đêm.
39Шта би зверје заклало нисам ти доносио, сам сам подмиривао; од мене си искао што би ми било украдено дању или ноћу.
40Ban ngày tôi chịu nắng nồng, ban đêm chịu lạnh lùng, ngủ nào có an giấc được đâu.
40Дању ме убијаше врућина а ноћу мраз; и сан ми не падаше на очи.
41Đó trong hai mươi năm tôi ở tại nhà cậu là thế; trong mười bốn năm giúp việc, để được hai con gái cậu, và sáu năm đặng lãnh lấy bầy súc vật của cậu, mà cậu lại còn thay đổi mười lần công giá tôi.
41Тако ми је био двадесет година у твојој кући; служио сам ти четрнаест година за два кћери твоје и шест година за стоку твоју, и плату си ми мењао десет пута.
42Nếu Đức Chúa Trời của cha tôi, Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, là Đấng mà Y-sác kính sợ, không phù hộ tôi, chắc bây giờ cậu đuổi tôi ra tay không, Đức Chúa Trời đã xem thấy nỗi đau-khổ tôi cùng công việc hai tay tôi làm, nên đêm qua Ngài đã xét công bình rồi đó.
42Да није Бог оца мог, Бог Аврамов, и страх Исаков био са мном, би ме зацело отпустио празна. Али је Бог видео невољу моју и труд руку мојих, па те укори ноћас.
43La-ban đáp cùng Gia-cốp mà rằng: Các đứa gái nầy là con của cậu; các đứa trẻ nầy là trẻ của cậu; các bầy súc vật tức là bầy của cậu, và các vật chi cháu thấy được tức của cậu hết; ngày nay cậu sẽ làm chi được cùng các con gái hai là các cháu cậu đó?
43А Лаван одговори Јакову и рече: Ове су кћери моје кћери, и ови су синови моји синови, и ова стока моја стока, и шта год видиш све је моје; па шта бих учинио данас кћерима својим или синовима њиховим које родише?
44Vậy bây giờ, hè! chúng ta kết-ước cùng nhau, để dùng làm chứng cho cậu và cháu.
44Него хајде да ухватимо веру, ја и ти, да буде сведочанство између мене и тебе.
45Gia-cốp lấy một hòn đá, dựng đứng lên làm trụ;
45И Јаков узе камен и утврди га за спомен.
46và nói cùng các anh em mình rằng: Hãy lượm góp đá lại. Chúng bèn góp đá lại, chất thành một đống, rồi ngồi lên trên ăn bữa.
46И рече Јаков браћи својој; накупите камења. И накупише камења и сложише на гомилу, и једоше на гомили.
47La-ban đặt trên đống đá đó là Y-ê-ga Sa-ha-đu-ta; còn Gia-cốp kêu là Ga-lét.
47И Лаван га назва Јегар-Сахадут, а Јаков га назва Галед.
48La-ban nói rằng: Đống đá nầy ngày nay làm chứng cho cậu và cháu đó. Cho nên chúng gọi là Ga-lét.
48И рече Лаван: Ова гомила нека буде сведок између мене и тебе данас. Зато се прозва Галед.
49Mà cũng gọi là Mích-ba, vì La-ban có nói thêm rằng: Khi chúng ta phân cách nhau, cầu xin Đức Giê-hô-va coi sóc cậu và cháu.
49А прозва се и Миспа, јер рече Лаван: Нека Господ гледа између мене и тебе, кад не узможемо видети један другог.
50Nếu cháu hành hạ các con gái cậu, nếu cưới vợ khác nữa, thì hãy giữ mình! Chẳng phải người thường soi xét ta đâu, bèn là Đức Chúa Trời làm chứng cho chúng ta vậy.
50Ако уцвелиш кћери моје и ако узмеш жене преко мојих кћери, неће човек бити између нас него гле Бог сведок између мене и тебе.
51La-ban lại nói cùng Gia-cốp rằng: Nầy đống đá, nầy cây trụ mà cậu đã dựng lên giữa cậu và cháu đây.
51И још рече Лаван Јакову: Гледај ову гомилу и гледај овај споменик, који подигох између себе и тебе.
52Đống đá nầy và cây trụ nầy làm chứng rằng cậu chẳng qua khỏi đây, đi đến nơi cháu, và cháu cũng chẳng vượt khỏi đây, đi đến nơi cậu, trong khi có ý muốn làm hại nhau.
52Сведок је ова гомила и сведок је овај споменик, да ни ја нећу прећи преко ове гомиле к теби ни ти к мени да нећеш прећи преко ове гомиле и споменика овог на зло.
53Cầu xin Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Na-cô, Đức Chúa Trời của cha các người đó đoán xét cho chúng ta! Gia-cốp chỉ Đấng của Y-sác, cha mình, kính sợ mà thề.
53Бог Аврамов и богови Нахорови, богови оца њиховог, нека суде међу нама. А Јаков се закле страхом оца свог Исака.
54Đoạn, người dâng một của lễ tại trên núi, và mời các anh em mình dùng bánh. Vậy, chúng dùng bánh, rồi ở ban đêm trên núi.
54И Јаков принесе жртву на гори, и сазва браћу своју на вечеру; и једоше па ноћише на гори.
55La-ban dậy sớm, hôn các con trai và các con gái mình, và chúc phước cho, rồi đi trở về nhà mình.
55А ујутру рано уста Лаван, и изљуби своју унучад и кћери своје, и благослови их, па отиде, и врати се у своје место.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.