Sáng 42
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Gia-cốp thấy xứ Ê-díp-tô có lúa bán ra, bèn nói cùng các con trai mình rằng: Sao bay ngơ ngẩn nhìn nhau vậy?
1А Јаков видећи да има жита у Мисиру, рече синовима својим: Шта гледате један на другог?
2Lại rằng: Nầy, cha nghe dưới xứ Ê-díp-tô có lúa bán; bay hãy xuống đó mua lúa cho chúng ta, hầu cho chúng ta sống và khỏi chết, chớ!
2И рече: Ето чујем да у Мисиру има жита; идите онамо те нам купите отуда, да останемо живи и не помремо.
3Mười người anh của Giô-sép bèn xuống Ê-díp-tô đặng mua lúa.
3И десеторица браће Јосифове отидоше да купе жита у Мисиру.
4Nhưng Gia-cốp không cho Bên-gia-min, em Giô-sép, đi cùng các anh; vì nghĩ rằng: Ta nên giữ chừng, kẻo xảy ra điều rủi ro cho nó.
4А Венијамина брата Јосифовог не пусти отац с браћом говорећи: Да га не би задесило како зло.
5Xứ Ca-na-an bấy giờ cũng đói, nên các con trai của Y-sơ-ra-ên cũng đổ xuống Ê-díp-tô mua lúa như các người khác.
5И дођоше синови Израиљеви да купе жита с осталима који долажаху; јер беше глад у земљи хананској.
6Vả, lúc nầy, chính Giô-sép cai trị trong nước, và bán lúa cho cả dân bản xứ. Các anh Giô-sép bèn đến, sấp mình xuống trước mặt người.
6А Јосиф управљаше земљом, и продаваше жито свему народу по земљи. И браћа Јосифова дошавши поклонише му се лицем до земље.
7Giô-sép thấy, nhìn biết các anh mình; nhưng giả làm mặt lạ cùng họ, nói một cách xẳng rằng: Các ngươi ở đâu đến? Đáp rằng: ỳ xứ Ca-na-an đến đặng mua lúa.
7А Јосиф угледавши браћу позна их; али се учини да их не познаје, и оштро им проговори и рече: Одакле сте дошли? А они рекоше: Из земље хананске, да купимо хране.
8Vậy, Giô-sép nhìn biết các anh mình; nhưng họ nhìn lại chẳng ra.
8Јосиф дакле позна браћу своју; али они њега не познаше.
9Giô-sép nhớ lại điềm chiêm bao mình đã thấy về anh em mình, liền thét rằng: Các ngươi là thám tử, đến đây đặng dòm hành những nơi yếu óp của xứ ta.
9И опомену се Јосиф снова које је снио за њих; и рече им: Ви сте уходе; дошли сте да видите где је земља слаба.
10Đáp rằng: Thưa chúa, chẳng phải vậy; các tôi tớ chúa đến đặng mua lúa mà thôi.
10А они му рекоше: Нисмо, господару; него слуге твоје дођоше да купе хране.
11Chúng tôi đây đều là con một cha, vốn nhà lương thiện, chẳng phải là thám tử đâu.
11Сви смо синови једног човека, поштени људи, никада нису слуге твоје биле уходе.
12Người đáp lại rằng: Chẳng phải; các ngươi đến đặng dòm hành những nơi yếu óp của xứ nầy.
12А он им рече: Није истина, него сте дошли да видите где је земља слаба.
13Đáp rằng: Kẻ tôi tớ chúa có mười hai anh em, con của một cha, nguyên xứ Ca-na-an; nầy một người đã đi mất biệt, còn người út hiện bây giờ hãy ở lại nhà cùng cha chúng tôi.
13А они рекоше: Нас је било дванаест браће, слуга твојих, синова једног човека у земљи хананској; и ено, најмлађи је данас код оца нашег, а једног нема више.
14Giô-sép nói: Aáy quả thật như ta đã nói, các ngươi là thám tử.
14А Јосиф им рече: Кажем ја да сте ви уходе.
15Đây là điều ta thử các ngươi: Ta chỉ mạng Pha-ra-ôn mà thề rằng, hễ em út các ngươi không đến đây thì chẳng bao giờ các ngươi ra khỏi chốn nầy được.
15Него хоћу да се уверим овако: тако жив био Фараон, нећете изаћи одавде докле не дође овамо најмлађи брат ваш.
16Hãy sai một người nào trong bọn các ngươi về dẫn em út xuống; còn bao nhiêu thì phải ở tù lại đây. Lời các ngươi phải thử đã, rồi ta sẽ biết các ngươi nói đó có quả thật chăng. Nếu chẳng thật, thì ta chỉ mạng Pha-ra-ôn thề rằng, các ngươi là thám tử đó.
16Пошљите једног између себе нека доведе брата вашег, а ви ћете остати овде у тамници, па ћу видети је ли истина шта говорите; иначе сте уходе, тако жив био Фараон.
17Đoạn, Giô-sép truyền đem giam họ chung trong ngục ba ngày.
17И затвори их у тамницу на три дана.
18Ngày thứ ba, Giô-sép nói cùng họ rằng: Ta kính sợ Đức Chúa Trời; hãy làm như điều nầy, thì được sống.
18А трећи дан рече им Јосиф: Ако сте ради животу, ово учините, јер се ја Бога бојим:
19Nếu các ngươi vốn nhà lương thiện, thì hãy để một người nào ở tù lại đây, còn bao nhiêu đem lương thực về nuôi đói cho nhà các ngươi.
19Ако сте поштени људи, један брат између вас нека остане у тамници, а ви идите и однесите жита колико треба породицама вашим.
20Đoạn, hãy dẫn em út xuống đây, thì lời các ngươi sẽ cho là thật, và các ngươi chẳng phải chết. Vậy, họ nghe theo.
20Па онда доведите к мени најмлађег брата свог да се посведоче речи ваше и да не изгинете. И они учинише тако.
21Họ bèn nói với nhau rằng: Quả thật chúng ta cam tội cùng em ta rồi; vì lúc trước ta thấy tâm hồn nó buồn thảm khi nó xin nhờ ơn, nhưng ta không khứng cho; vậy nên tai vạ nầy mới xảy đến cho chúng ta.
21И рекоше један другом: Доиста се огрешисмо о брата свог, јер видесмо муку душе његове кад нам се мољаше, па га се оглушисмо; зато дође на нас ова мука.
22Ru-bên đáp rằng: Anh há không có nói cùng các em rằng: Chớ phạm tội nầy cùng đứa trẻ đó sao? Nhưng các em không nghe; nên bây giờ huyết nó đòi chúng ta thường lại.
22А Рувим одговори им говорећи: Нисам ли вам говорио: Немојте се грешити о дете? Али ме не послушасте; и зато се ево тражи од нас крв његова.
23Vả, Giô-sép vẫn dùng người thông ngôn nói chuyện lại cùng các anh, nên họ tưởng Giô-sép chẳng nghe hiểu.
23А они не знаху да их Јосиф разуме, јер се с њим разговараху преко тумача.
24Giô-sép xây mặt qua chỗ khác mà khóc. Đoạn xây mặt lại nói chuyện cùng họ; bèn bắt Si-mê-ôn trong vòng anh em, truyền trói lại trước mặt họ.
24А Јосиф окрете се од њих, и заплака се. Потом се опет окрете к њима, и проговори с њима, и узевши између њих Симеуна веза га пред њима.
25Giô-sép truyền đầy tớ xúc lúa đổ đầy bao và để bạc lại trong đó cho mỗi người anh em, cũng để thêm lương thực dùng dọc đường. Đầy tớ làm y như lời.
25И заповеди Јосиф да им наспу вреће жита, па и новце шта је који дао да метну свакоме у врећу, и да им даду брашњенице на пут. И тако би учињено.
26Đoạn, anh em chất mấy bao lúa lên lưng lừa, rồi đi.
26И натоваривши жито своје на магарце своје отидоше.
27Đến quán, một người trong bọn mở bao ra cho lừa ăn thóc, thấy bạc mình ở tại miệng bao;
27А један од њих отворив своју врећу да нахрани магарца свог у једној гостионици, виде новце своје озго у врећи.
28bèn nói cùng anh em rằng: Bạc của tôi trả lại, hiện trong bao tôi đây! Các anh em nhát gan, vừa nói với nhau, vừa run, mà rằng: Đức Chúa Trời đã làm chi cho chúng ta đây?
28И рече браћи својој: Ја добих натраг новце своје, ево их у мојој врећи. И задрхта срце у њима и уплашише се говорећи један другом: Шта нам то учини Бог?
29Các anh em trở về cùng Gia-cốp, cha mình, tại xứ Ca-na-an, thuật lại cho người nghe mọi nỗi đã xảy đến, rằng:
29И дошавши к Јакову оцу свом у земљу хананску, приповедише му све што им се догоди, говорећи:
30người đang làm chúa tại xứ Ê-díp-tô nói với chúng tôi cách xẳng xớm, cho chúng tôi là thám tử.
30Оштро говораше с нама човек, који заповеда у оној земљи, и дочека нас као уходе.
31Song chúng tôi có thưa cùng người rằng: Chúng tôi vốn nhà lương thiện, nào có phải là thám tử đâu.
31А кад му рекосмо: Ми смо поштени људи, никад нисмо били уходе;
32Chúng tôi được mười hai anh em, con một cha; một người đã đi mất biệt, còn người út hiện bây giờ ở nhà cùng cha, tại xứ Ca-na-an.
32било нас је дванаест браће, синова оца нашег; једног већ нема, а најмлађи је данас код оца нашег у земљи хананској;
33Người làm chúa xứ đó dạy rằng: Làm như vầy, ta mới cho các ngươi là lương thiện: Hãy để lại cùng ta một người nào trong bọn các ngươi, còn bao nhiêu sẽ đem lương thực về nuôi đói cho nhà các ngươi;
33рече нам човек, који заповеда у оној земљи: Овако ћу дознати јесте ли поштени људи: брата једног између себе оставите код мене, а шта вам треба за породице ваше глади ради, узмите и идите.
34đoạn, hãy dẫn em út đến cho ta. Vậy, ta mới biết rằng các ngươi chẳng phải là thám tử, nhưng là người lương thiện; ta sẽ giao em lại cho, và các ngươi sẽ được buôn bán trong xứ nầy.
34После доведите к мени брата свог најмлађег, да се уверим да нисте уходе него поштени људи; брата ћу вам вратити, и моћи ћете трговати по овој земљи.
35Vả, đang khi các anh em trút lúa mì ra bao, nầy đâu, trong mỗi bao có gói bạc của mỗi người; cha và các anh em thấy những gói bạc mình, đều lấy làm sợ hãi.
35А кад изручиваху вреће своје, гле, свакоме у врећи беху у завежљају новци његови; и видевши завежљаје новаца својих уплашише се и они и отац им.
36Gia-cốp, cha họ bèn nói rằng: Bay làm mất các con tao; Giô-sép đã mất biệt, Si-mê-ôn cũng mất biệt; mà bây giờ, lại muốn dẫn Bên-gia-min đi nữa sao! Các nông nỗi nầy đều đổ lại cho tao hết!
36И рече им Јаков отац њихов: Потрсте ми децу; Јосифа нема, Симеуна нема, па хоћете и Венијамина да узмете; све се скупило на ме.
37Ru-bên thưa lại cùng cha rằng: Cha hãy giao em nơi tôi, tôi sẽ dẫn về cho. Ví bằng chẳng dẫn em về, thì cha hãy giết hai đứa con trai tôi đi.
37А Рувим проговори и рече оцу свом: Два сина моја убиј, ако ти га не доведем натраг; дај га у моје руке, и ја ћу ти га опет довести.
38Nhưng Gia-cốp đáp rằng: Con út tao sẽ chẳng đi xuống với bay đâu; vì anh nó đã chết rồi, chỉ còn một mình nó mà thôi. Nếu điều rủi ro chi xảy đến cho nó nơi dọc đường bay đi, tức nhiên bay làm cho kẻ tóc bạc nầy đau lòng xót dạ xuống âm phủ.
38А он рече: Неће ићи син мој с вама, јер је брат његов умро и он оста сам, па ако би га задесило како зло на путу на који ћете ићи, свалили би сте ме стара с тугом у гроб.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.