Sáng 19
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Lối chiều, hai thiên sứ đến Sô-đôm; lúc đó, Lót đang ngồi tại cửa thành. Khi Lót thấy hai thiên sứ đến, đứng dậy mà đón rước và sấp mình xuống đất.
1А увече дођоше два анђела у Содом; а Лот сеђаше на вратима содомским; и кад их угледа, устаде те их срете, и поклони се лицем до земље,
2Người thưa rằng: Nầy, lạy hai chúa, xin hãy đến ở nhà của kẻ tôi tớ, và hãy nghỉ đêm tại đó. Hai chúa hãy rửa chân, rồi sáng mai thức dậy lên đường. Hai thiên sứ phán rằng: Không, đêm nầy ta sẽ ở ngoài đường.
2и рече: Ходите, господо, у кућу слуге свог, и преноћите и оперите ноге своје; па сутра рано кад устанете пођите својим путем. А они рекоше: Не, него ћемо преноћити на улици.
3Nhưng Lót cố mời cho đến đỗi hai thiên sứ phải đi lại vào nhà mình. Người dâng một bữa tiệc, làm bánh không men, và hai thiên sứ bèn dùng tiệc.
3Али он навали на њих, те се увратише к њему и уђоше у кућу његову, и он их угости, и испече хлебова пресних, и једоше.
4Hai thiên sứ chưa đi nằm, mà các người nam ở Sô-đôm, từ trẻ đến già, tức cả dân, đều chạy đến bao chung quanh nhà.
4И још не беху легли, а грађани Содомљани слегоше се око куће, старо и младо, сав народ са свих крајева,
5Bọn đó gọi Lót mà hỏi rằng: Những khách đã vào nhà ngươi buổi chiều tối nay ở đâu? Hãy dẫn họ ra đây, hầu cho chúng ta được biết.
5и викаху Лота и говораху му: Где су људи што дођоше синоћ к теби? Изведи их к нама да их познамо.
6Lót bèn ra đến cùng dân chúng ở ngoài cửa, rồi đóng cửa lại,
6А Лот изиђе к њима пред врата затворивши врата за собом,
7và nói cùng họ rằng: Nầy, tôi xin anh em đừng làm điều ác đó!
7и рече им: Немојте, браћо, чинити зла.
8Đây, tôi sẵn có hai con gái chưa chồng, tôi sẽ đưa chúng nó cho anh em, rồi mặc tình anh em tính làm sao tùy ý; miễn đừng làm chi hại cho hai người kia; vì cớ đó, nên họ đến núp bóng mái nhà tôi.
8Ево имам две кћери, које још не познаше човека; њих ћу вам извести, па чините с њима шта вам је воља; само не дирајте у ове људе, јер су зато ушли под мој кров.
9Bọn dân chúng nói rằng: Ngươi hãy tránh chỗ khác! Lại tiếp rằng: Người nầy đến đây như kẻ kiều ngụ, lại muốn đoán xét nữa sao! Vậy, thôi! chúng ta sẽ đãi ngươi bạc-tệ hơn hai khách kia. Đoạn, họ lấn ép Lót mạnh quá, và tràn đến đặng phá cửa.
9А они рекоше: Ходи амо. Па онда рекоше: Овај је сам дошао амо да живи као дошљак, па још хоће да нам суди; сад ћемо теби учинити горе него њима. Па навалише јако на човека, на Лота, и стадоше истављати врата.
10Nhưng hai thiên sứ giơ tay ra, đem Lót vào nhà, và đóng cửa lại,
10А она два човека дигоше руке, и увукоше Лота себи у кућу, и затворише врата.
11đoạn, hành phạt bọn dân chúng ở ngoài cửa, từ trẻ đến già, đều quáng lòa mắt, cho đến đỗi tìm cửa mệt mà không được.
11А људе што беху пред вратима кућним уједанпут ослепише од најмањег до највећег, те не могаху наћи врата.
12Hai thiên sứ bèn hỏi Lót rằng: Ngươi còn có ai tại đây nữa chăng? Rể, con trai, con gái và ai trong thành thuộc về ngươi, hãy đem ra khỏi hết đi!
12Тада она два човека рекоше Лоту: Ако имаш овде још кога свог, или зета или сина или кћер, или кога год свог у овом граду, гледај нек иду одавде;
13Chúng ta sẽ hủy diệt chỗ nầy, vì tiếng kêu oan về dân thành nầy đã thấu lên đến Đức Giê-hô-va, nên Ngài sai chúng ta xuống mà hủy diệt.
13јер хоћемо да затремо место ово, јер је вика њихова велика пред Господом, па нас посла Господ да га затремо.
14Lót bèn đi ra và nói cùng rể đã cưới con gái mình rằng: Hãy chổi dậy, đi ra khỏi chốn nầy, vì Đức Giê-hô-va sẽ hủy diệt thành. Nhưng các chàng rể tưởng người nói chơi.
14И изиђе Лот, и каза зетовима својим, за које хтеде дати кћери своје, и рече им: Устајте, идите из места овог, јер ће сада затрти Господ град овај. Али се зетовима његовим учини да се шали.
15Đến sáng, hai thiên sứ hối Lót và phán rằng: Hãy thức dậy, dẫn vợ và hai con gái ngươi đang ở đây ra, e khi ngươi cũng chết lây về việc hình phạt của thành nữa chăng.
15А кад зора забеле, навалише анђели на Лота говорећи: Устани, узми жену своју, и две кћери своје које су ту, да не погинеш у безакоњу града тог.
16Nhưng Lót lần lữa; vì cớ Đức Giê-hô-va thương xót Lót, nên hai thiên sứ nắm lấy tai kéo người, vợ cùng hai con gái người, và dẫn ra khỏi thành.
16А он се стаде шчињати, те људи узеше за руку њега и жену његову и две кћери његове, јер га беше жао Господу и изведоше га и пустише га иза града.
17Vả, khi hai thiên sứ dẫn họ ra khỏi rồi, một trong hai vì nói rằng: Hãy chạy trốn cứu lấy mạng, đừng ngó lại sau và cũng đừng dừng bước lại nơi nào ngoài đồng bằng; hãy chạy trốn lên núi, kẻo phải bỏ mình chăng.
17И кад их изведоше напоље, рече један: Избави душу своју и не обзири се натраг и у целој овој равни да ниси стао; бежи на оно брдо да не погинеш.
18Lót đáp lại rằng: Lạy Chúa, không được!
18А Лот им рече: Немој, Господе!
19Nầy, tôi tớ đã được ơn trước mặt Chúa; Chúa đã tỏ lòng nhân từ rất lớn cùng tôi mà cứu tròn sự sống tôi. Nhưng tôi chạy trốn lên núi không kịp trước khi tai nạn đến, thì tôi phải chết.
19Гле, слуга твој нађе милост пред Тобом, и милост је Твоја превелика коју ми учини сачувавши ми живот; али не могу утећи на брдо да ме не стигне зло и не погинем.
20Kìa, thành kia đã nhỏ, lại cũng gần đặng tôi có thế ẩn mình. Oâi! chớ chi Chúa cho tôi ẩn đó đặng cứu tròn sự sống tôi. Thành nầy há chẳng phải nhỏ sao?
20Ено град близу; онамо се може утећи, а мали је; да бежимо онамо; та мали је, те ћу остати жив.
21Thiên sứ phán rằng: Đây, ta ban ơn nầy cho ngươi nữa, sẽ không hủy diệt thành của ngươi đã nói đó đâu.
21А он му рече: Ето послушаћу те и зато, и нећу затрти града, за који рече.
22Mau mau hãy lại ẩn đó, vì ta không làm chi được khi ngươi chưa vào đến nơi. Bởi cớ ấy, nên người ta gọi tên thành nầy là Xoa.
22Брже бежи онамо; јер не могу чинити ништа док не стигнеш онамо. Зато се прозва онај град Сигор.
23Khi mặt trời mọc lên khỏi đất, thì Lót vào đến thành Xoa.
23И кад сунце ограну по земљи, Лот дође у Сигор.
24Đoạn, Đức Giê-hô-va giáng mưa diêm sanh và lửa từ nơi Ngài trên trời sa xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ,
24Тада пусти Господ на Содом и на Гомор од Господа с неба дажд од сумпора и огња,
25hủy diệt hai thành nầy, cả đồng bằng, hết thảy dân sự cùng các cây cỏ ở nơi đất đó.
25и затре оне градове и сву ону раван, и све људе у градовима и род земаљски.
26Nhưng vợ của Lót quay ngó lại đặng sau mình, nên hóa ra một tượng muối.
26Али жена Лотова беше се обазрела идући за њим, и поста слан камен.
27Aùp-ra-ham dậy sớm, đi đến nơi mà người đã đứng chầu Đức Giê-hô-va,
27А сутрадан рано уставши Аврам, отиде на место где је стајао пред Господом;
28ngó về hướng Sô-đôm và Gô-mô-rơ, cùng khắp xứ ở đồng bằng, thì thấy từ dưới đất bay lên một luồng khói, như khói của một lò lửa lớn.
28и погледа на Содом и Гомор и сву околину по оној равни, и угледа, а то се дизаше дим од земље као дим из пећи.
29Vả, khi Đức Chúa Trời hủy diệt các thành nơi đồng bằng, tức là thành Lót ở, thì nhớ đến Aùp-ra-ham, cứu Lót ra khỏi chốn phá tan đó.
29Али кад Бог затираше градове у оној равни, опомену се Бог Аврама, и изведе Лота из пропасти кад затре градове где живеше Лот.
30Lót ở Xoa thì sợ hãi, nên cùng hai con gái mình bỏ đó mà lên núi, ở trong một hang đá kia.
30А Лот отиде из Сигора и стани се на оном брду с две кћери своје, јер се бојаше остати у Сигору; и живеше у пећини с две кћери своје.
31Cô lớn nói cùng em mình rằng: Cha ta đã già, mà không còn ai trên mặt đất đến sánh duyên cùng ta theo như thế thường thiên hạ.
31А старија рече млађој: Наш је отац стар, а нема никога на земљи да дође к нама, као што је обичај по свој земљи.
32Hè! chúng ta hãy phục rượu cho cha, và lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại.
32Хајде да дамо оцу вина нека се опије, па да легнемо с њим, еда бисмо сачувале семе оцу свом.
33Đêm đó, hai nàng phục rượu cho cha mình; nàng lớn đến nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết.
33И дадоше оцу вина ону ноћ; и дошавши старија леже с оцем својим, и он не осети ни кад она леже ни кад устаде.
34Qua ngày mai, chị nói cùng em rằng: Nầy, đêm hôm qua ta đã nằm cùng cha rồi; hôm nay chúng ta hãy phục rượu cho cha nữa, rồi em hãy lại nằm cùng người, để lưu truyền dòng giống cha lại.
34А сутрадан рече старија млађој: Гле, ноћас спавах с оцем својим. Да му дамо вина и довече, па иди ти и лези с њим, еда бисмо сачувале семе оцу свом.
35Đêm đó, hai nàng lại phục rượu cho cha mình nữa, rồi nàng nhỏ thức dậy lại nằm cùng cha; nhưng người chẳng hay lúc nào nàng nằm, lúc nào nàng dậy hết.
35Па и то вече дадоше оцу вина, и уставши млађа леже с њим, и он не осети ни кад она леже ни кад устаде.
36Vậy, hai con gái của Lót do nơi cha mình mà thọ thai.
36И обе кћери Лотове затруднеше од оца свог.
37Nàng lớn sanh được một con trai, đặt tên là Mô-áp; ấy là tổ phụ của dân Mô-áp đến bây giờ.
37И старија роди сина, и надеде му име Моав; од њега су Моавци до данашњег дана.
38Người em cũng sanh đặng một con trai, đặt tên là Bên-Am-mi; ấy là tổ phụ của dân Am-môn đến bây giờ.
38Па и млађа роди сина, и надеде му име Вен-Амије; од њега су Амонци до данашњег дана.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.