Sáng 32
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Daničić–Karadžić Bible (1868), Cyrillic
1Gia-cốp cứ đi đường, có thiên sứ Đức Chúa Trời gặp người.
1А Јаков отиде својим путем; и сретоше га анђели Божији;
2Khi Gia-cốp thấy các vị nầy, nói rằng: Aáy là trại quân của Đức Chúa Trời! Nên người đặt tên chỗ đó là Ma-ha-na-im.
2а кад их угледа Јаков, рече: Ово је логор Божји. И прозва оно место Маханаим.
3Gia-cốp sai sứ giả đến trước cùng Ê-sau, anh mình, ở trong xứ Sê-i-rơ thuộc về địa-phận Ê-đôm;
3И Јаков посла пред собом гласнике к Исаву брату свом у земљу Сир, крајину едомску.
4người bèn dặn rằng: Các ngươi hãy thưa cùng Ê-sau, chúa ta như vầy: Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, có nói như vầy rằng: Tôi đã ngụ tại nhà La-ban đến ngày nay;
4И заповеди им говорећи: Овако кажите господару мом Исаву: Слуга твој Јаков овако каже: Био сам дошљак код Лавана и бавио се до сад.
5có bò, lừa, chiên, tôi trai, tớ gái; vậy, xin sai đi nói cho chúa hay trước, hầu cho nhờ được ơn trước mặt chúa tôi.
5А имам волова и магараца, оваца и слуга, и слушкиња, и послах да јавим теби господару свом, еда бих нашао милост пред тобом.
6Các sứ giả trở về nói cùng Gia-cốp rằng: Chúng tôi đã đi đến Ê-sau, anh của chủ; nầy người đang đem bốn trăm người đến để rước chủ.
6И вратише се гласници к Јакову и рекоше му: Идосмо до брата твог Исава, и ето он ти иде на сусрет с четири стотине момака.
7Gia-cốp rất sợ hãi và sầu não, bèn chia các dân đi theo, cùng các bầy chiên, bò, lạc đà ra làm hai đội, mà rằng:
7А Јаков се уплаши јако и забрину се; па раздели своје људе и овце и говеда и камиле у две чете.
8Nếu Ê-sau đến hãm đánh một trong hai đội, thì đội còn lại sẽ thoát được.
8И рече: Ако Исав удари на једну чету и разбије је, да ако друга утече.
9Đoạn, Gia-cốp cầu rằng: Hỡi Đức Chúa Trời của tổ phụ Aùp-ra-ham tôi! Đức Chúa Trời của cha Y-sác tôi, tức là Đức Giê-hô-va! Ngài có phán dạy tôi rằng: Hãy trở về xứ ngươi và nơi bà con ngươi, rồi ta sẽ làm ơn cho ngươi!
9И рече Јаков: Боже оца мог Аврама и Боже оца мог Исака, Господе, који си ми казао: Врати се у земљу своју и у род свој, и ја ћу ти бити добротвор!
10Tôi lấy làm hèn mọn không đáng chịu các ân huệ và các điều thành thực mà Ngài đã làm cho kẻ tôi tớ Ngài; vì lúc trước khi qua sông Giô-đanh chỉ có cây gậy tôi, mà ngày nay tôi lại trở nên hai đội quân nầy.
10Нисам вредан толике милости и толике вере што си учинио слузи свом; јер само са штапом својим пређох преко Јордана, а сада сам господар од две чете.
11Vậy, cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu tôi khỏi tay Ê-sau, anh tôi, vì e người đến đánh tôi và đánh luôn mẹ với con nữa.
11Избави ме из руке брата мог, из руке Исавове, јер се бојим да не дође и убије мене и матер с децом.
12Vả, Ngài có nói rằng: Quả thật vậy, ta sẽ làm ơn cho ngươi, và làm cho dòng dõi ngươi đông như cát bãi biển, người ta sẽ không biết sao đếm được, vì đông đúc quá.
12А Ти си казао: Заиста ја ћу ти бити добротвор, и учинићу семе твоје да буде као песка морског, који се не може избројати од множине.
13Người ở ban đêm tại đó, lấy các vật có hiện trong tay để làm một của lễ dâng cho Ê-sau, anh mình,
13И заноћи онде ону ноћ, и узе шта му дође до руке, да пошаље на дар Исаву брату свом,
14là hai trăm dê cái và hai chục dê đực; hai trăm chiên cái và hai chục chiên đực;
14двеста коза с двадесет јараца, двеста оваца с двадесет овнова,
15ba chục lạc đà cái có con đang bú, bốn chục bò cái và mười bò đực; hai chục con lừa cái và mười lừa con.
15тридесет камила дојилица с камиладима, четрдесет крава с десеторо телади, двадесет магарица с десеторо магаради.
16Rồi, giao mỗi bầy riêng ra nơi tay đầy tớ mình và dặn rằng: Các ngươi hãy đi trước ta và dẫn bầy nầy cách một khoảng đến bầy kia.
16И предаде их слугама својим, свако стадо напосе, и рече слугама: Идите напред преда мном, остављајући доста места између једног стада и другог.
17Người dặn tên dẫn bầy đi trước hết như vầy: Khi Ê-sau, anh ta, gặp và hỏi ngươi rằng: Ngươi ở với ai, đi đâu, và bầy súc vật trước mặt ngươi đó thuộc về ai?
17И заповеди првом говорећи: Кад сретнеш Исава, брата мог, па те запита: Чији си? И куда идеш? И чије је то што гониш пред собом?
18thì hãy thưa rằng: Của Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa; ấy là một lễ gởi dâng cho Ê-sau, chúa tôi; và nầy, chính mình người đang theo sau.
18А ти реци: Слуге твог Јакова, а ово шаље на дар господару свом Исаву, а ето и сам иде за нама.
19Gia-cốp cũng dặn y lời cho tên dẫn bầy thứ nhì, thứ ba và hết thảy người theo coi chừng các bầy, và lại nói: Khi gặp Ê-sau, các ngươi hãy nhớ lời đó,
19Тако заповеди и другом и трећем и свима који иђаху за стадом, и рече: Тако кажите Исаву кад наиђете на њ.
20và nói như vầy: Nầy, Gia-cốp, kẻ tôi tớ chúa, đang theo sau chúng tôi. Vì người thầm nghĩ rằng: Mình đem lễ nầy dâng trước cho Ê-sau nguôi giận đã, rồi mình sẽ giáp mặt sau; có lẽ người tiếp rước mình một cách thuận hiệp đó.
20И још кажите: Ето, Јаков слуга твој иде за нама. Јер говораше: Ублажићу га даром који иде преда мном, па ћу му онда видети лице, да ако ме лепо прими.
21Vậy, lễ nầy đem đi trước, còn người, đêm đó ở lại trại.
21Тако отиде дар напред, а он преноћи ону ноћ код чете своје.
22Ban đêm, người thức dậy, dẫn hai vợ, hai tên đòi và mười một đứa con mình đi qua rạch Gia-bốc.
22И по ноћи уста, и узе обе жене и две робиње и једанаесторо деце своје; и преброди брод Јавок.
23Người đem họ qua rạch, và hết thảy của cải mình qua nữa.
23А пошто њих узе и преведе преко потока, претури и остало што имаше.
24Vả, một mình Gia-cốp ở lại; thì có một người vật lộn với mình đến rạng đông.
24А кад оста Јаков сам, тада се један човек рваше с њим до зоре.
25Khi người đó thấy mình không thắng nổi, bèn đánh vào xương hông Gia-cốp; xương hông liền trặt trong khi vật lộn.
25И кад виде да га не може свладати, удари га по зглавку у стегну, те се Јакову ишчаши стегно из зглавка, кад се човек рваше с њим.
26Người đó bèn nói: Trời đã rạng đông rồi; thôi để cho ta đi; nhưng Gia-cốp đáp rằng: Tôi chẳng cho người đi đâu, nếu người không ban phước cho tôi.
26Па онда рече: Пусти ме, зора је. А Јаков му рече: Нећу те пустити докле ме не благословиш.
27Người đó hỏi: Tên ngươi là chi? Đáp rằng: Tên tôi là Gia-cốp.
27А човек му рече: Како ти је име. А он одговори: Јаков.
28Người lại nói: Tên ngươi sẽ chẳng làm Gia-cốp nữa, nhưng tên là Y-sơ-ra-ên, vì ngươi đã có vật lộn cùng Đức Chúa Trời và người ta; ngươi đều được thắng.
28Тада му рече: Одселе се нећеш звати Јаков, него Израиљ; јер си се јуначки борио и с Богом и с људима, и одолео си.
29Gia-cốp hỏi: Xin cho tôi biết tên người. Đáp rằng: Làm sao ngươi hỏi tên ta? Rồi người nầy ban phước cho Gia-cốp tại đó.
29А Јаков запита и рече: Кажи ми како је теби име. А Он рече: Што питаш како ми је име? И благослови га онде.
30Gia-cốp đặt tên chỗ đó là Phê-ni-ên, và nói rằng: Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi và linh hồn tôi được giải cứu.
30И Јаков надеде име оном месту Фануил; јер, вели, Бога видех лицем к лицу, и душа се моја избави.
31Khi qua nơi Phê-ni-ên, thấy mặt trời mọc rồi; và người đi giẹo cẳng.
31И сунце му се роди кад прође Фануил, и храмаше на стегно своје.
32Bởi cớ đó, cho đến ngày nay dân Y-sơ-ra-ên chẳng bao giờ ăn gân bắp vế của lối xương hông; vì người đó có đánh vào xương hông Gia-cốp, nơi gân của bắp vế.
32Зато синови Израиљеви не једу крајеве од мишића на зглавку у стегну до данашњег дана, што се Јакову повредише крајеви од мишића на зглавку у стегну.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.