Sáng 24
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Vả, Aùp-ra-ham đã già, tuổi đã cao; trong mọi việc Đức Giê-hô-va đã ban phước cho người.
1อับราฮัมแก่มากแล้วและพระยาห์เวห์อวยพรเขาในทุกเรื่อง
2Aùp-ra-ham nói cùng người đầy tớ ở lâu hơn hết trong nhà mình, có quyền quản trị các gia tài, mà rằng: Xin hãy đặt tay lên đùi ta,
2อับราฮัมพูดกับคนรับใช้คนอาวุโสที่สุดในเรือนซึ่งดูแลทุกสิ่งที่เขามีว่า“เอามือวางใต้ต้นขาของฉัน
3và ta sẽ biểu ngươi chỉ Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của trời và đất, mà thề rằng: ngươi không cưới một cô nào trong bọn con gái của dân Ca-na-an, tức giữa dân ấy ta trú ngụ, làm vợ cho con trai ta.
3ฉันจะให้เจ้าสาบานต่อพระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งท้องฟ้าและพระเจ้าแห่งแผ่นดินว่าเจ้าจะไม่หาภรรยาให้ลูกชายฉันจากลูกสาวชาวคานาอันที่ฉันอาศัยอยู่ท่ามกลางพวกเขา
4Nhưng hãy đi về quê hương ta, trong vòng bà con ta, cưới một người vợ cho Y-sác, con trai ta.
4แต่ให้ไปยังบ้านเมืองและญาติพี่น้องของฉันแล้วหาภรรยาให้อิสอัคลูกชายฉันจากที่นั่น”
5Người đầy tớ thưa rằng: Có lẽ người con gái không khứng theo tôi về xứ nầy; vậy, có phải tôi dẫn con trai ông đến xứ mà ông đã ra đi khỏi chăng?
5คนรับใช้ถามว่า“ถ้าผู้หญิงไม่ยอมตามผมมาที่ดินแดนนี้ผมต้องพาลูกชายของท่านกลับไปดินแดนที่ท่านจากมาหรือ”
6Aùp-ra-ham nói rằng: Hãy cẩn thận, đừng dẫn con ta về xứ đó!
6อับราฮัมตอบว่า“ระวังอย่าพาลูกชายฉันกลับไปที่นั่น
7Giê-hô-va Đức Chúa Trời trên trời, là Đấng đã đem ta ra khỏi nhà cha ta và xứ sở ta, có phán và thề rằng: Ta sẽ cho dòng dõi ngươi xứ nầy! Chính Ngài sẽ sai thiên sứ đi trước ngươi, và nơi đó ngươi hãy cưới một vợ cho con trai ta.
7พระยาห์เวห์พระเจ้าแห่งท้องฟ้าเป็นผู้พาฉันออกจากบ้านพ่อและดินแดนที่ฉันเกิดพระองค์พูดกับฉันและสาบานว่า‘เราจะมอบดินแดนนี้ให้ลูกหลานของเจ้า’พระองค์จะส่งทูตของพระองค์ไปนำหน้าเจ้าและเจ้าจะหาภรรยาให้ลูกชายฉันจากที่นั่นได้
8Nếu người con gái không khứng theo, thì ngươi sẽ khỏi mắc lời của ta biểu ngươi thề; mà dẫu thế nào đi nữa, chớ đem con ta về chốn đó.
8ถ้าผู้หญิงไม่ยอมตามเจ้ามาเจ้าก็พ้นจากคำสาบานนี้ที่ให้ไว้กับฉัน แต่ห้ามพาลูกชายฉันกลับไปที่นั่น”
9Đoạn, người đầy tớ để tay lên đùi Aùp-ra-ham chủ mình, và thề sẽ làm theo như lời người đã dặn biểu.
9คนรับใช้จึงวางมือใต้ต้นขาของอับราฮัมนายของตนและสาบานเรื่องนี้กับเขา
10Đoạn, người đầy tớ bắt mười con lạc đà trong bầy của chủ mình, đem theo đủ các tài vật của chủ đã giao, rồi đứng dậy đi qua xứ Mê-sô-bô-ta-mi, đến thành của Na-cô.
10คนรับใช้เลือกอูฐของนายมา 10 ตัวและเอาของดีนานาชนิดของนายไปด้วย เขาออกเดินทางไปเมโสโปเตเมียถึงเมืองของนาโฮร์
11Người cho lạc đà nằm quì gối xuống nghỉ ở ngoài thành, gần bên một giếng kia, vào buổi chiều, đến giờ của những con gái ra đi xách nước.
11เมื่อถึงนอกเมืองเขาให้อูฐคุกเข่าข้างบ่อน้ำตอนเย็นซึ่งเป็นเวลาที่หญิงสาวออกมาตักน้ำ
12Người nói rằng: Hỡi Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của chủ Aùp-ra-ham tôi ơi! xin ngày nay cho tôi gặp điều mà tôi tìm kiếm, và hãy làm ơn cho chủ Aùp-ra-ham tôi!
12เขาอธิษฐานว่า“พระยาห์เวห์พระเจ้าของอับราฮัมนายของผมขอให้วันนี้ผมทำภารกิจนี้สำเร็จและขอให้พระองค์แสดงความเมตตาต่อนายของผม
13Nầy, tôi đứng gần bên giếng nầy, các con gái của dân trong thành sẽ ra đi xách nước,
13ตอนนี้ผมยืนอยู่ข้างตาน้ำและลูกสาวของคนในเมืองกำลังออกมาตักน้ำ
14xin cho người gái trẻ nào mà tôi nói như vầy: “Xin nàng hãy nghiêng bình, cho tôi uống nhờ hớp nước,” mà nàng trả lời rằng: “Hãy uống đi, rồi tôi sẽ cho các lạc đà ngươi uống nữa,” là chính người mà Chúa đã định cho Y-sác, kẻ tôi tớ Ngài; và nhờ đó tôi sẽ biết rằng Chúa đã làm ơn cho chủ tôi vậy.
14ขอให้เป็นอย่างนี้ถ้าผมพูดกับหญิงสาวคนหนึ่งว่า‘ช่วยลดเหยือกลงให้ผมดื่มน้ำหน่อย’แล้วเธอตอบว่า‘ดื่มสิท่านฉันจะให้อูฐของท่านดื่มด้วย’ก็ขอให้เธอเป็นคนที่พระองค์กำหนดไว้สำหรับอิสอัคคนรับใช้ของพระองค์แล้วผมจะรู้ว่าพระองค์แสดงความเมตตาต่อนายของผม”
15Người đầy tớ chưa dứt lời, nầy, nàng Rê-be-ca vác bình trên vai đi ra. Nàng là con gái của Bê-tu-ên, Bê-tu-ên là con trai của Minh-ca, vợ Na-cô, em trai của Aùp-ra-ham.
15ก่อนที่เขาจะพูดจบเรเบคาห์ก็เดินออกมาพร้อมเหยือกบนไหล่ เธอเป็นลูกสาวของเบธูเอลซึ่งเป็นลูกของมิลคาห์กับนาโฮร์ผู้เป็นพี่น้องกับอับราฮัม
16Người gái trẻ đó thật rất đẹp, còn đồng trinh, chưa gả cho ai. Nàng xuống giếng nhận đầy bình nước, rồi trở lên.
16หญิงสาวสวยมากและยังเป็นสาวพรหมจารีไม่เคยหลับนอนกับชายคนใด เธอลงไปที่ตาน้ำเติมน้ำใส่เหยือกแล้วเดินขึ้นมา
17Đầy tớ bèn chạy lại trước mặt nàng và nói rằng: Xin hãy cho tôi uống một hớp nước trong bình.
17คนรับใช้วิ่งไปหาและพูดว่า“ขอน้ำจากเหยือกให้ผมดื่มสักหน่อยได้ไหม”
18Nàng đáp rằng: Thưa chúa, hãy uống đi; rồi nàng lật đật đỡ bình xuống tay và cho người uống.
18เธอตอบว่า“ดื่มสิท่าน”แล้วรีบลดเหยือกลงมาพยุงไว้ในมือให้เขาดื่ม
19Khi đỡ cho người uống xong rồi, nàng lại tiếp rằng: Tôi cũng sẽ xách cho mấy con lạc đà chúa uống nữa, chừng nào uống đã thì thôi.
19พอเขาดื่มเสร็จเธอพูดว่า“ฉันจะตักน้ำให้อูฐของท่านด้วยจนมันดื่มอิ่ม”
20Nàng lật đật đổ nước bình ra máng, chạy xuống giếng xách nước thêm nữa cho hết thảy các con lạc đà uống.
20เธอรีบเทน้ำจากเหยือกลงรางแล้ววิ่งกลับไปที่บ่อตักน้ำอีกตักให้อูฐทุกตัว
21Còn người ngồi làm thinh mà nhìn nàng, để cho biết Đức Giê-hô-va làm thành công việc mình đi đây hay chăng.
21ชายคนนั้นยืนมองเธอเงียบๆอย่างตั้งใจเพื่อจะรู้ว่าพระยาห์เวห์ทำให้การเดินทางของเขาสำเร็จหรือไม่
22Khi lạc đà vừa thôi uống, người đầy tớ bèn lấy một khoanh vàng nặng được nửa siếc-lơ và đôi xuyến nặng được mười siếc-lơ,
22เมื่ออูฐดื่มน้ำเสร็จชายคนนั้นหยิบห่วงทองคำหนักครึ่งเชเขล และกำไลทองสองวงสำหรับมือของเธอหนักรวม 10 เชเขล
23mà nói rằng: Nàng là con ai? xin nói cho tôi biết. Trong nhà cha nàng có chỗ nào cho tôi ở nghỉ ban đêm chăng?
23แล้วถามว่า“เธอเป็นลูกสาวใคร ช่วยบอกผมหน่อย ที่บ้านพ่อของเธอมีที่ให้พวกเราพักคืนนี้ไหม”
24Nàng đáp rằng: Tôi là con gái của Bê-tu-ên, cháu nội của Minh-ca và Na-cô.
24เธอตอบว่า“ฉันเป็นลูกสาวของเบธูเอลลูกของมิลคาห์ซึ่งมิลคาห์คลอดให้นาโฮร์”
25Rồi lại nói: Nhà chúng tôi có nhiều rơm và cỏ, và cũng có chỗ để cho ở nghỉ nữa.
25แล้วพูดต่อว่า“ที่บ้านเรามีทั้งฟางและอาหารสัตว์มากพอและมีที่ให้พักด้วย”
26Người bèn cúi đầu và sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va,
26ชายคนนั้นก้มศีรษะลงและนมัสการพระยาห์เวห์
27mà nói rằng: Đáng ngợi khen thay Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời của chủ Aùp-ra-ham tôi! Ngài chẳng ngớt thương xót và thành thực đối cùng chủ tôi! Khi đang đi, Đức Giê-hô-va dẫn dắt tôi đến nhà anh em của chủ tôi vậy.
27เขากล่าวว่า“ขอสรรเสริญพระยาห์เวห์พระเจ้าของอับราฮัมนายของผมผู้ไม่ได้ละทิ้งความเมตตาและความซื่อสัตย์ที่มีต่อนายของผม พระยาห์เวห์นำผมมาตามทางจนถึงบ้านของญาตินาย”
28Người gái trẻ đó chạy về, thuật chuyện nầy lại cho nội nhà mẹ mình.
28หญิงสาววิ่งกลับบ้านไปเล่าเรื่องเหล่านี้ให้คนในบ้านแม่ฟัง
29Vả, nàng Rê-be-ca có một anh, tên là La-ban. La-ban chạy đến người đầy tớ đó ở gần bên giếng.
29เรเบคาห์กับลาบันเป็นพี่น้องกันลาบันวิ่งออกไปหาชายคนนั้นที่ตาน้ำ
30Vừa thấy khoanh vàng và đôi xuyến nơi tay em gái mình, và đã nghe chuyện Rê-be-ca thuật lại rằng: Người nầy nói vậy! thì đi đến người, đang đứng gần bên mấy con lạc đà, ở nơi giếng nước,
30เมื่อลาบันเห็นห่วงทองและกำไลที่มือของเรเบคาห์และได้ยินเธอเล่าว่า“ชายคนนั้นพูดกับฉันแบบนี้”เขาก็ออกมาหาชายคนนั้นซึ่งยังยืนอยู่ข้างอูฐที่ตาน้ำ
31mà thưa rằng: Hỡi người đã được Đức Giê-hô-va ban phước! Xin mời vào. Sao đứng ngoài nầy vậy? Tôi đã sửa soạn nhà và dọn-dẹp một nơi cho mấy con lạc đà rồi.
31ลาบันกล่าวว่า“เชิญเข้ามาเถอะผู้ที่พระยาห์เวห์อวยพร จะยืนอยู่ข้างนอกทำไม ผมเตรียมบ้านและที่สำหรับอูฐไว้แล้ว”
32Người đầy tớ bèn vào nhà; La-ban cổi yên cho lạc đà, đem cỏ cùng rơm cho các thú đó; rồi lấy nước đặng rửa chân cho người đầy tớ và mấy kẻ đi theo.
32ชายคนนั้นเข้าบ้านแล้วปลดของจากอูฐ เขาเอาฟางกับอาหารมาให้อูฐและเอาน้ำมาล้างเท้าของตนกับคนที่มาด้วย
33Đoạn, người nhà bày bữa và mời ăn; nhưng người đầy tớ nói: Không, tôi không ăn đâu, nếu chưa nói được những điều tôi cần phải nói. La-ban đáp rằng: Hãy nói đi!
33พวกเขายกอาหารมาให้แต่เขาบอกว่า“ผมยังไม่กินจนกว่าจะเล่าธุระที่มาให้ฟัง” ลาบันตอบว่า“พูดมาเถอะ”
34Người bèn nói rằng: Tôi là đầy tớ của Aùp-ra-ham.
34เขาเริ่มว่า“ผมเป็นคนรับใช้ของอับราฮัม
35Đức Giê-hô-va đã ban phước cho chủ tôi bội phần, trở nên thạnh vượng; Ngài cho chủ tôi chiên, bò, bạc, vàng, tôi trai tớ gái, lạc đà và lừa.
35พระยาห์เวห์อวยพรนายของผมอย่างมากจนเขากลายเป็นผู้ยิ่งใหญ่ พระองค์ให้เขามีฝูงแกะ ฝูงโค เงิน ทอง ทาสชาย ทาสหญิง อูฐและลา
36Vả, Sa-ra, vợ chủ tôi, trở về già, có sanh một con trai cho người; người đã giao gia tài mình lại hết cho con trai đó.
36ซาราห์ภรรยาของนายคลอดลูกชายให้นายตอนที่เธอแก่แล้วและนายยกทุกสิ่งที่มีให้ลูกคนนี้
37Chủ tôi lại có bắt tôi thề rằng: Ngươi chớ cưới cho con trai ta một người vợ nào trong bọn con gái của dân Ca-na-an, là xứ ta đang trú ngụ;
37นายให้ผมสาบานว่า‘อย่าหาภรรยาให้ลูกชายฉันจากลูกสาวชาวคานาอันในดินแดนที่ฉันอาศัยอยู่
38nhưng hãy về nhà cha ta, trong vòng bà con ta, mà cưới cho nó một người vợ tại đó.
38แต่ให้ไปที่บ้านพ่อและญาติของฉันแล้วหาภรรยาให้ลูกชายจากที่นั่น’
39Tôi nói cùng chủ tôi rằng: Có lẽ người con gái không khứng theo tôi về.
39ผมถามนายว่า‘ถ้าผู้หญิงไม่ยอมตามผมมาล่ะ’
40Chủ đáp rằng: Đức Giê-hô-va là Đấng ta phục sự sẽ sai thiên sứ theo ngươi, làm cho thành công việc ngươi đi; và ngươi sẽ cưới cho con trai ta một người vợ trong vòng bà con ta, tại nhà cha ta.
40นายตอบว่า‘พระยาห์เวห์ผู้ที่ฉันดำเนินชีวิตอยู่ต่อหน้าพระองค์จะส่งทูตของพระองค์ไปกับเจ้าและทำให้การเดินทางของเจ้าสำเร็จเจ้าจะหาภรรยาให้ลูกชายฉันจากญาติและบ้านพ่อของฉัน
41Vậy, nếu khi ngươi đi về bà con ta, mà họ không khứng gả cho, thì ngươi sẽ được gỡ lời thề nặng của ngươi đã thề cùng ta đó.
41เมื่อเจ้าไปถึงญาติของฉันเจ้าก็พ้นจากคำสาบาน ถ้าพวกเขาไม่ยอมมอบนางให้เจ้าเจ้าก็พ้นจากคำสาบานของฉัน’
42Ngày nay, khi đi đến giếng kia, tôi có cầu rằng: Lạy Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của chủ Aùp-ra-ham tôi! Xin đoái đến mà giúp công việc của tôi đi đây cho được thành!
42วันนี้เมื่อมาถึงตาน้ำผมอธิษฐานว่า‘พระยาห์เวห์พระเจ้าของอับราฮัมนายของผมถ้าพระองค์จะทำให้การเดินทางที่ผมมานี้สำเร็จ
43Nầy, tôi ngồi gần bên giếng nầy: cầu xin hễ người gái trẻ nào sẽ ra xách nước mà tôi nói cùng nàng rằng: Xin cho tôi uống một hớp nước trong bình;
43ตอนนี้ผมยืนอยู่ข้างตาน้ำ ขอให้หญิงสาวที่ออกมาตักน้ำและผมบอกว่า“ขอน้ำจากเหยือกให้ผมดื่มสักหน่อย”
44mà sẽ trả lời rằng: Hãy uống đi, rồi tôi sẽ xách cho các lạc đà ngươi uống nữa, xin cho người gái trẻ đó là vợ mà Đức Giê-hô-va đã định cho con trai của chủ tôi!
44แล้วเธอตอบว่า“ดื่มสิท่านฉันจะตักให้อูฐของท่านด้วย”ก็ขอให้เธอเป็นผู้หญิงที่พระยาห์เวห์กำหนดไว้สำหรับลูกชายของนาย’
45Chưa dứt lời thầm nguyện, bỗng đâu nàng Rê-be-ca vác bình trên vai đi ra, xuống giếng xách nước. Tôi nói với nàng rằng: Xin cho tôi uống hớp nước.
45ก่อนผมจะพูดในใจจบเรเบคาห์ก็ออกมาพร้อมเหยือกบนไหล่ เธอลงไปตักน้ำที่ตาน้ำ ผมบอกว่า‘ขอน้ำให้ผมดื่มหน่อย’
46Nàng lật đật hạ bình trên vai xuống mà nói rằng: Hãy uống đi, rồi tôi sẽ cho các lạc đà ngươi uống nữa; vậy tôi có uống và nàng cũng có cho các lạc đà uống nữa.
46เธอรีบลดเหยือกจากไหล่แล้วพูดว่า‘ดื่มสิท่านฉันจะให้อูฐของท่านดื่มด้วย’ผมจึงดื่มและเธอก็ให้อูฐดื่มด้วย
47Tôi bèn hỏi nàng rằng: Nàng là con gái ai? Nàng đáp: Tôi là con gái của Bê-tu-ên, cháu nội của Na-cô và Minh-ca. Tôi liền đeo cái khoanh nơi lỗ mũi và đôi xuyến vào tay nàng.
47ผมถามว่า‘เธอเป็นลูกสาวใคร’ เธอตอบว่า‘ลูกสาวของเบธูเอลลูกชายของนาโฮร์ซึ่งมิลคาห์คลอดให้เขา’ ผมจึงใส่ห่วงทองที่จมูกเธอและสวมกำไลที่มือ
48Đoạn, tôi cúi đầu và sấp mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chủ Aùp-ra-ham tôi, mà đã dẫn tôi vào đường chính đáng, để chọn được cho con trai người con gái của em chủ tôi.
48แล้วผมก้มศีรษะนมัสการพระยาห์เวห์และสรรเสริญพระยาห์เวห์พระเจ้าของอับราฮัมนายของผมผู้พาผมมาถูกทางจนได้พบลูกสาวของชายผู้เป็นพี่น้องกับนายเพื่อให้เป็นภรรยาของลูกชายนาย
49Vậy, bây giờ, nếu các ông muốn lấy lòng tử tế và trung tín đối cùng chủ tôi, xin hãy tỏ điều đó cho, dầu không, xin cũng nói cho biết, hầu cho tôi sẽ xây về bên hữu hay là về bên tả.
49ตอนนี้ถ้าพวกท่านจะแสดงความเมตตาและความซื่อสัตย์ต่อนายของผมก็บอกผมถ้าไม่ก็บอกเพื่อผมจะได้หันไปทางขวาหรือทางซ้าย”
50La-ban và Bê-tu-ên đáp rằng: Điều đó do nơi Đức Giê-hô-va mà ra, chúng tôi đâu nói được cùng ngươi rằng quấy hay rằng phải.
50ลาบันกับเบธูเอลตอบว่า“เรื่องนี้มาจากพระยาห์เวห์ พวกเราจะพูดว่าดีหรือไม่ดีกับท่านก็ไม่ได้
51Kìa, Rê-be-ca đang ở trước mặt ngươi, hãy dẫn nó đi, để nó được làm vợ của con trai chủ ngươi, theo như lời Đức Giê-hô-va phán định.
51เรเบคาห์อยู่ตรงหน้าท่านแล้ว พาเธอไปให้เป็นภรรยาลูกชายของนายท่านตามที่พระยาห์เวห์กล่าวเถอะ”
52Đầy tớ của Aùp-ra-ham vừa nghe lời hai người nói xong, liền sấp mình xuống đất trước mặt Đức Giê-hô-va.
52เมื่อคนรับใช้ของอับราฮัมได้ยินคำของพวกเขาเขาก็หมอบลงถึงพื้นนมัสการพระยาห์เวห์
53Người lấy đồ trang sức bằng bạc, vàng, và áo xống trao cho Rê-be-ca; rồi cùng lấy các vật quí dâng cho anh và mẹ nàng.
53จากนั้นเขานำเครื่องประดับเงิน เครื่องประดับทองและเสื้อผ้ามามอบให้เรเบคาห์พร้อมมอบของมีค่าให้ลาบันและแม่ของเธอ
54Đoạn người đầy tớ cùng các người đi theo ngồi ăn uống; rồi ngủ tại đó. Qua ngày sau, khi họ đã thức dậy, người đầy tớ nói rằng: Xin hãy cho tôi trở về chủ.
54ชายคนนั้นกับคนที่มาด้วยกินดื่มและพักค้างคืน เช้าขึ้นเขาพูดว่า“ขอให้ผมกลับไปหานายของผมเถอะ”
55Nhưng anh và mẹ nàng nói rằng: Hãy cho người gái trẻ ở lại cùng chúng tôi ít ngày nữa, độ chừng mười bữa, rồi nó sẽ đi.
55ลาบันกับแม่ของเรเบคาห์ตอบว่า“ให้หญิงสาวอยู่กับพวกเราอีกสักหลายวันอย่างน้อย 10 วันแล้วค่อยไป”
56Đầy tớ đáp rằng: Xin chớ cầm tôi trễ lại, vì Đức Giê-hô-va có làm việc đi đường tôi được thành. Hãy cho tôi đi, trở về nhà chủ tôi.
56เขาตอบว่า“อย่ารั้งผมไว้เลยในเมื่อพระยาห์เวห์ทำให้การเดินทางของผมสำเร็จแล้ว ขอให้ผมกลับไปหานาย”
57Họ đáp rằng: Chúng ta hãy gọi người gái trẻ đó và hỏi ý nó ra sao;
57พวกเขาพูดว่า“เรียกหญิงสาวมาถามกัน”
58bèn kêu Rê-be-ca và nói rằng: Con muốn đi cùng người nầy chăng? Nàng rằng: Tôi muốn đi.
58พวกเขาเรียกเรเบคาห์มาแล้วถามว่า“เธอจะไปกับชายคนนี้ไหม” เธอตอบว่า“ไป”
59Đoạn, họ cho Rê-be-ca, em gái mình, và người vú của nàng, đi về theo người đầy tớ của Aùp-ra-ham và các kẻ đi theo.
59พวกเขาจึงส่งเรเบคาห์ซึ่งเป็นพี่น้องกันกับพวกเขาไปพร้อมแม่นมคนรับใช้ของอับราฮัมและคนของเขา
60Họ chúc phước cho Rê-be-ca mà rằng: Hỡi em gái chúng ta! Chúc cho em được trở nên mẹ của ức triệu người, và cho dòng dõi em được chiếm lấy cửa thành của quân nghịch.
60พวกเขาอวยพรเรเบคาห์ว่า“เรเบคาห์เราเป็นพี่น้องกันขอให้เธอเป็นแม่ของคนนับพันนับหมื่นและขอให้ลูกหลานของเธอยึดประตูเมืองของคนที่เกลียดพวกเขา”
61Rê-be-ca và các đòi nàng đứng dậy, lên cỡi lạc đà, đi theo người đầy tớ đó. Vậy, người đầy tớ dẫn Rê-be-ca đi.
61เรเบคาห์กับหญิงสาวที่ติดตามเธอลุกขึ้นขี่อูฐตามชายคนนั้นไป คนรับใช้จึงพาเรเบคาห์ออกเดินทาง
62Bấy giờ Y-sác ở tại nam phương từ giếng La-chai-Roi trở về;
62อิสอัคกลับมาจากทางเบเออร์ลาไฮรอยเพราะเขาอาศัยอยู่ในดินแดนตอนใต้
63lối chiều, người đi ra ngoài đồng đặng suy ngẫm; nhướng mắt lên, kìa ngó thấy lạc đà đâu đi đến.
63ตอนเย็นอิสอัคออกไปครุ่นคิดอยู่ในทุ่ง เมื่อมองขึ้นไปก็เห็นอูฐกำลังเดินมา
64Nàng Rê-be-ca cũng nhướng mắt lên, bèn chợt thấy Y-sác; liền nhảy xuống lạc đà,
64เรเบคาห์มองขึ้นไปเห็นอิสอัคก็ลงจากอูฐ
65và hỏi đầy tớ rằng: Người ở đằng trước mặt tôi đi lại trong đồng đó là ai: Đầy tớ thưa rằng: Aáy là chủ tôi đó. Nàng bèn lấy lúp che mặt lại.
65เธอถามคนรับใช้ว่า“ผู้ชายที่กำลังเดินในทุ่งมาพบพวกเราคือใคร” คนรับใช้ตอบว่า“นายของผมเอง” เรเบคาห์จึงหยิบผ้าคลุมมาคลุมตัว
66Rồi, đầy tớ thuật cho Y-sác nghe hết các việc mà mình đã làm;
66คนรับใช้เล่าให้อิสอัคฟังทุกเรื่องที่เขาทำมา
67Y-sác bèn dẫn Rê-be-ca vào trại của Sa-ra, mẹ mình, cưới làm vợ, và yêu mến nàng. Vậy, Y-sác được giải phiền sau khi mẹ mình qua đời.
67อิสอัคพาเรเบคาห์เข้าไปในเต็นท์ของซาราห์แม่ของเขารับเรเบคาห์เป็นภรรยาและรักเธอ อิสอัคจึงคลายความโศกหลังจากแม่เสียชีวิต
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.