Job 7
Reina-Valera 1909Translation
Reina-Valera 1909
Vietnamese Bible (1923 translation)
1CIERTAMENTE tiempo limitado tiene el hombre sobre la tierra, y sus días son como los días del jornalero.
1Người ở thế gian há chẳng có sự chiến trận sao? Niên nhựt người há không phải như đời của người làm mướn ư?
2Como el siervo anhela la sombra, y como el jornalero espera el reposo de su trabajo:
2Như kẻ nô lệ ước ao bóng tối, Như người làm thuê trông đợi tiền lương,
3Así poseo yo meses de vanidad, y noches de trabajo me dieron por cuenta.
3Như vậy tôi đã được các tháng khốn khó, Và những đêm lao khổ làm phần định cho tôi.
4Cuando estoy acostado, digo: ¿Cuándo me levantaré? Y mide mi corazón la noche, y estoy harto de devaneos hasta el alba.
4Khi tôi nằm ngủ thì tôi nói rằng: Chừng nào tôi sẽ thức dậy? Bao giờ sẽ hết tối tăm? Tôi quá trăn trở cho đến rạng ngày.
5Mi carne está vestida de gusanos, y de costras de polvo; mi piel hendida y abominable.
5Thịt tôi bị bao phủ giòi tửa và lấp đất; Da tôi nứt nẻ và chảy mủ ra!
6Y mis días fueron más ligeros que la lanzadera del tejedor, y fenecieron sin esperanza.
6Các ngày tôi qua mau hơn thoi dệt cửi, Tiêu đi, chẳng có trông cậy gì.
7Acuérdate que mi vida es viento, y que mis ojos no volverán á ver el bien.
7Oâi! Xin hãy nhớ mạng sống tôi chỉ bằng hơi thở; Mắt tôi sẽ chẳng còn thấy điều phước hạnh nữa.
8Los ojos de los que me ven, no me verán más: tus ojos sobre mí, y dejaré de ser.
8Mắt đã thấy tôi sẽ chẳng thấy tôi nữa, Mắt Chúa đoái đến tôi, nhưng tôi sẽ không còn,
9La nube se consume, y se va: así el que desciende al sepulcro no subirá;
9Mây tan ra và đi mất thể nào, Kẻ xuống âm phủ không hề trở lên, cũng thể ấy.
10No tornará más á su casa, ni su lugar le conocerá más.
10Họ không hề trở về nhà mình nữa, Và xứ sở người chẳng còn biết người.
11Por tanto yo no reprimiré mi boca; hablaré en la angustia de mi espíritu, y quejaréme con la amargura de mi alma.
11Bởi cớ ấy, tôi chẳng cầm miệng tôi; Trong cơn hoạn nạn của lòng tôi, tôi sẽ nói ra; Trong cay đắng của linh hồn tôi, tôi sẽ phàn nàn.
12¿Soy yo la mar, ó ballena, que me pongas guarda?
12Tôi nói cùng Đức Chúa Trời rằng: Tôi há là một cái biển, một kỳ vật trong biển, Nên Ngài đặt kẻ cầm giữ tôi bốn bên?
13Cuando digo: Mi cama me consolará, mi cama atenuará mis quejas;
13Khi tôi nói: Giường tôi sẽ an ủi tôi, Nệm tôi sẽ làm hoạn nạn tôi nhẹ bớt,
14Entonces me quebrantarás con sueños, y me turbarás con visiones.
14Bấy giờ Chúa dùng chiêm bao làm cho tôi hoảng kinh, Lấy dị tượng khiến cho tôi sợ hãi.
15Y así mi alma tuvo por mejor el ahogamiento, y quiso la muerte más que mis huesos.
15Đến đỗi linh hồn tôi chọn sự ngột hơi, Và chết hơn là còn sống nơi xương cốt nầy.
16Aburríme: no he de vivir yo para siempre; déjame, pues que mis días son vanidad.
16Tôi đã chán sự sống. Tôi sẽ chẳng sống hoài. Xin Chúa để tôi ở một mình; vì các ngày tôi chỉ là hư không.
17¿Qué es el hombre, para que lo engrandezcas, y que pongas sobre él tu corazón,
17Loài người là gì mà Chúa kể là cao trọng? Nhân sao Chúa lưu ý đến người.
18Y lo visites todas las mañanas, y todos los momentos lo pruebes?
18Viếng thăm người mỗi buổi sớm, Và thử thách người mỗi lúc mỗi khi?
19¿Hasta cuándo no me dejarás, ni me soltarás hasta que trague mi saliva?
19Nhân sao Chúa không xây mắt khỏi tôi, Chẳng để cho tôi bằng tịnh cho đến khi nuốt nước miếng tôi?
20Pequé, ¿qué te haré, oh Guarda de los hombres? ¿por qué me has puesto contrario á ti, y que á mí mismo sea pesado?
20Hỡi Đấng gìn giữ loài người! nếu tôi đã phạm tội, có làm gì nghịch Chúa? Nhân sao Chúa đặt tôi làm một tấm bia, Đến đỗi mình trở thành gánh nặng cho mình?
21¿Y por qué no quitas mi rebelión, y perdonas mi iniquidad? porque ahora dormiré en el polvo, y si me buscares de mañana, ya no seré.
21Cớ sao Chúa không tha tội cho tôi, Cất lấy gian ác khỏi tôi đi? Vì bây giờ tôi sẽ nằm trong bụi đất; Chúa sẽ tìm kiếm tôi, song tôi không còn nữa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.