Иосуа
Chapter 14
Cornilescu Bible (1924),…
vs Vietnamese Bible (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Cornilescu Bible (1924), Cyrillic script
Vietnamese Bible (1923 translation)
1Ятэ локуриле пе каре ле-ау примит копиий луй Исраел ка моштенире ын цара Канаанулуй, пе каре ли ле-ау ымпэрцит ынтре ей преотул Елеазар, Иосуа, фиул луй Нун, ши кэпетенииле де фамилие але семинциилор копиилор луй Исраел.
1Nầy là các phần dân Y-sơ-ra-ên nhận lãnh làm sản nghiệp trong xứ Ca-na-an, mà thầy tế lễ Ê-lê-a-sa, Giô-suê, con trai Nun, và các trưởng lão của những chi phái dân Y-sơ-ra-ên phân phát cho.
2Ымпэрциря с-а фэкут прин сорць, кум порунчисе Домнул прин Мойсе, пентру челе ноуэ семинций ши жумэтате.
2Người ta bắt thăm chia xứ cho chín chi phái, và cho phân nửa chi phái, y như Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se phán dặn.
3Кэч Мойсе дэдусе о моштенире челор доуэ семинций ши жумэтате де чялалтэ парте а Йорданулуй, дар левицилор ну ле дэдусе моштенире принтре ей.
3Môi-se đã phát cho hai chi phái và cho phân nửa chi phái kia phần sản nghiệp ở bên kia sông Giô-đanh; nhưng tại giữa họ người không phát phần sản nghiệp cho chi phái Lê-vi.
4Фиий луй Иосиф алкэтуяу доуэ семинций: Манасе ши Ефраим; ши левицилор ну ли с-а дат парте ын царэ, афарэ де четэциле пентру локуит, ку локуриле гоале димпрежурул лор пентру турмеле ши авериле лор.
4Con cháu Giô-sép phân làm hai chi phái, là Ma-na-se và Eùp-ra-im; người ta không lấy phần sản nghiệp trong xứ mà phát cho người Lê-vi, nhưng chỉ phát mấy thành đặng ở, với đất chung quanh thành, để dùng cho các bầy súc vật và tài sản của họ.
5Копиий луй Исраел ау фэкут ынтокмай дупэ порунчиле пе каре ле дэдусе луй Мойсе Домнул ши ау ымпэрцит цара.
5Dân Y-sơ-ra-ên làm y theo điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se mà chia xứ.
6Фиий луй Иуда с-ау апропият де Иосуа ла Гилгал; ши Калеб, фиул луй Иефуне, Кенизитул, й-а зис: „Штий че а спус Домнул луй Мойсе, омул луй Думнезеу, ку привире ла мине ши ку привире ла тине, ла Кадес-Барня.
6Vả, con cháu Giu-đa đến gần Giô-suê tại Ghinh ganh, và Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, người Kê-nít, nói cùng người rằng: Oâng biết điều thuộc về tôi và ông mà Đức Giê-hô-va đã phán cùng Môi-se, người của Đức Chúa Trời, tại Ca-đe-Ba-nê-a.
7Ерам ын вырстэ де патрузечь де ань кынд м-а тримис Мойсе, робул Домнулуй, дин Кадес-Барня, ка сэ искодеск цара, ши й-ам адус штирь аша кум ымь спуня инима мя куратэ.
7Khi Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, ở Ca-đe-Ba-nê-a sai tôi đi do thám xứ, thì tôi đã được bốn mươi tuổi; và tôi thuật lại cho người thật tình.
8Фраций мей каре се суисерэ ымпреунэ ку мине ау тэят инима попорулуй, дар еу ам урмат ын тотул каля Домнулуй Думнезеулуй меу.
8Các anh em đồng đi lên với tôi làm cho bá tánh sờn lòng; còn tôi trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tôi.
9Ши ын зиуа ачея, Мойсе а журат ши а зис: ‘Цара ын каре а кэлкат пичорул тэу ва фи моштениря та пе вечие, пентру тине ши пентру копиий тэй, пентру кэ ай урмат ын тотул воя Домнулуй Думнезеулуй меу.’
9Trong ngày đó, Môi-se có thề mà rằng: Quả thật đất mà chân ngươi đã đạp đến sẽ thuộc về ngươi và con cháu ngươi làm sản nghiệp đời đời; vì ngươi trung thành đã vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta.
10Акум ятэ кэ Домнул м-а цинут ын вяцэ, кум а спус. Сунт патрузечь ши чинч де ань де кынд ворбя Домнул астфел луй Мойсе, кынд умбла Исраел прин пустиу, ши акум ятэ кэ азь сунт ын вырстэ де оптзечь ши чинч де ань.
10Kìa, trong bốn mươi lăm năm nay, từ khi Ngài phán lời này cùng Môi-se, đang khi Y-sơ-ra-ên còn đi trong đồng vắng, Đức Giê-hô-va đã bảo tồn sanh mạng tôi đến bây giờ, và ngày nay tôi được tám mươi lăm tuổi.
11Ши астэзь, сунт тот аша де таре ка ын зиуа кынд м-а тримис Мойсе; ам тот атыта путере кыт авям атунч, фие пентру луптэ, фие пентру ка сэ мерг ын фрунтя воастрэ.
11Rày tôi cũng còn mạnh khỏe như ngày Môi-se sai tôi đi; tôi vẫn còn sức mà tôi có hồi đó, đặng đi đánh giặc, hoặc vào ra.
12Дэ-мь дар мунтеле ачеста деспре каре а ворбит Домнул пе время ачея, кэч ай аузит атунч кэ аколо сунт анакимь ши кэ сунт четэць марь ши ынтэрите. Домнул ва фи, поате, ку мине ши-й вой изгони, кум а спус Домнул.”
12Vậy, hãy ban cho tôi núi này, mà Đức Giê-hô-va đã phán đến trong ngày đó; vì bây giờ, ông đã hay rằng có dân A-na-kim và các thành lớn bền vững ở đó. Có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ ở cùng tôi, và tôi sẽ đuổi chúng nó đi, y như Ngài đã phán chăng.
13Иосуа а бинекувынтат пе Калеб, фиул луй Иефуне, ши й-а дат ка моштенире Хебронул.
13Giô-suê bèn chúc phước cho người, và ban Hếp-rôn cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, làm sản nghiệp.
14Астфел, Калеб, фиул луй Иефуне, Кенизитул, а авут де моштенире пынэ ын зиуа де азь Хебронул, пентру кэ урмасе ын тотул каля Домнулуй Думнезеулуй луй Исраел.
14Bởi cớ đó, Hếp-rôn bị ban cho Ca-lép, con trai Giê-phu-nê, người Kê-nít, làm sản nghiệp cho đến ngày nay; vì người có trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.
15Хебронул се кема май ынаинте Кириат-Арба – Арба фусесе омул чел май маре динтре анакимь. Ши цара с-а одихнит де рэзбой.
15Vả, khi xưa Hếp-rôn gọi là Ki-ri-át-A-ra-ba: A-ra-ba là người giềnh giàng hơn hết trong dân A-na-kim. Từ đây về sau xứ được bình tịnh, không còn giặc giã.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.