Ma 7
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Freedom Bible (Thai)
1Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét.
1“อย่าตัดสิน เพื่อพวกคุณจะไม่ถูกตัดสิน
2Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.
2เพราะพวกคุณตัดสินอย่างไร พวกคุณก็จะถูกตัดสินอย่างนั้น และพวกคุณใช้เครื่องตวงใดตวง ก็จะตวงให้พวกคุณด้วยเครื่องตวงนั้น
3Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình?
3ทำไมเจ้าจึงเห็นเศษผงในตาของพี่น้องของเจ้า แต่ไม่สังเกตคานไม้ที่อยู่ในตาของเจ้าเอง?
4Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình?
4หรือเจ้าจะพูดกับพี่น้องของเจ้าได้อย่างไรว่า ‘ให้เราเอาเศษผงออกจากตาของเจ้าเถอะ’ ทั้งที่มีคานไม้อยู่ในตาของเจ้าเอง?
5Hỡi kẻ giả hình! trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được.
5คนหน้าซื่อใจคด! จงเอาคานไม้ออกจากตาของเจ้าเองก่อน แล้วเจ้าจะมองเห็นชัดพอที่จะเอาเศษผงออกจากตาของพี่น้องของเจ้า
6Đừng cho chó những đồ thánh, và đừng quăng hột trai mình trước mặt heo, kẻo nó đạp dưới chân, và quay lại cắn xé các ngươi.
6“อย่าให้สิ่งบริสุทธิ์แก่สุนัข และอย่าโยนไข่มุกของพวกคุณไว้ตรงหน้าหมู ไม่เช่นนั้น พวกมันอาจเหยียบย่ำไข่มุกนั้นใต้เท้า แล้วหันกลับมาขย้ำพวกคุณ
7Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho.
7“จงขอ แล้วจะให้แก่พวกคุณ จงแสวงหา แล้วพวกคุณจะพบ จงเคาะ แล้วจะเปิดให้แก่พวกคุณ
8Bởi vì, hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở.
8เพราะทุกคนที่ขอย่อมได้รับ คนที่แสวงหาย่อมพบ และจะเปิดให้แก่คนที่เคาะ
9Trong các ngươi có ai, khi con mình xin bánh, mà cho đá chăng?
9หรือในพวกคุณ มีใครบ้างที่ เมื่อลูกขอขนมปัง จะให้ก้อนหินแก่เขา?
10Hay là con mình xin cá, mà cho rắn chăng?
10หรือเมื่อลูกขอปลา จะให้งูแก่เขา?
11Vậy nếu các ngươi vốn là xấu, còn biết cho con cái mình các vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban các vật tốt cho những người xin Ngài sao?
11ถ้าพวกคุณซึ่งเป็นคนชั่วยังรู้จักให้ของดีแก่ลูก ๆ ของตน พระบิดาของพวกคุณผู้อยู่ในสวรรค์จะยิ่งให้สิ่งดี ๆ แก่คนที่ขอจากพระองค์มากกว่านั้นสักเพียงใด!
12Aáy vậy, hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ, vì ấy là luật pháp và lời tiên tri.
12ดังนั้น ทุกสิ่งที่พวกคุณต้องการให้คนอื่นทำต่อพวกคุณ พวกคุณก็จงทำต่อพวกเขาอย่างนั้น เพราะนี่คือธรรมบัญญัติและบรรดาผู้เผยพระวจนะ
13Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều.
13“จงเข้าทางประตูแคบ เพราะประตูที่นำไปสู่ความพินาศนั้นกว้าง และทางก็กว้างขวาง มีคนจำนวนมากที่เข้าทางนั้น
14Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít.
14ประตูนั้นช่างแคบ และทางที่นำไปสู่ชีวิตก็ช่างคับแคบ! มีคนเพียงไม่กี่คนที่พบทางนั้น
15Hãy coi chừng tiên tri giả, là những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muông sói hay cắn xé.
15“จงระวังผู้เผยพระวจนะเท็จ ซึ่งมาหาพวกคุณในคราบแกะ แต่ภายในเป็นหมาป่าดุร้าย
16Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được. Nào có ai hái trái nho nơi bụi gai, hay là trái vả nơi bụi tật lê?
16พวกคุณจะรู้จักพวกเขาได้จากผลของพวกเขา คนเก็บองุ่นจากพุ่มหนาม หรือเก็บมะเดื่อจากต้นหนามหรือ?
17Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu.
17เช่นเดียวกัน ต้นไม้ดีทุกต้นย่อมเกิดผลดี แต่ต้นไม้ไม่ดีย่อมเกิดผลไม่ดี
18Cây tốt chẳng sanh được trái xấu, mà cây xấu cũng chẳng sanh được trái tốt.
18ต้นไม้ดีจะเกิดผลไม่ดีไม่ได้ และต้นไม้ไม่ดีก็จะเกิดผลดีไม่ได้
19Hễ cây nào chẳng sanh trái tốt, thì phải đốn mà chụm đi.
19ต้นไม้ทุกต้นที่ไม่เกิดผลดีจะถูกตัดลงและโยนเข้าไฟ
20Aáy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được.
20ดังนั้น พวกคุณจะรู้จักพวกเขาได้จากผลของพวกเขา
21Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.
21“ไม่ใช่ทุกคนที่พูดกับเราว่า ‘องค์พระผู้เป็นเจ้า องค์พระผู้เป็นเจ้า’ จะได้เข้าอาณาจักรแห่งสวรรค์ แต่คนที่ทำตามพระประสงค์ของพระบิดาของเราผู้อยู่ในสวรรค์ต่างหาก
22Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao?
22ในวันนั้น คนจำนวนมากจะพูดกับเราว่า ‘องค์พระผู้เป็นเจ้า องค์พระผู้เป็นเจ้า พวกเราไม่ได้เผยพระวจนะในนามของท่าน ขับปีศาจในนามของท่าน และทำการอัศจรรย์อันยิ่งใหญ่มากมายในนามของท่านหรือ?’
23Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!
23แล้วเราจะบอกพวกเขาว่า ‘เราไม่เคยรู้จักพวกเจ้าเลย จงไปให้พ้นจากเรา พวกที่ทำความอธรรม’
24Vậy, kẻ nào nghe và làm theo lời ta phán đây, thì giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên hòn đá.
24“ดังนั้น ทุกคนที่ฟังถ้อยคำเหล่านี้ของเราและทำตาม เราจะเปรียบเขากับคนมีปัญญาที่สร้างบ้านของตนบนศิลา
25Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy; song không sập, vì đã cất trên đá.
25ฝนตกลงมา น้ำก็หลากมา ลมพัดกระหน่ำบ้านนั้น แต่บ้านไม่พัง เพราะวางรากฐานไว้บนศิลา
26Kẻ nào nghe lời ta phán đây, mà không làm theo, khác nào như người dại cất nhà mình trên đất cát.
26ทุกคนที่ฟังถ้อยคำเหล่านี้ของเราแต่ไม่ทำตาม จะเหมือนคนโง่ที่สร้างบ้านของตนบนทราย
27Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy, thì bị sập, hư hại rất nhiều.
27ฝนตกลงมา น้ำก็หลากมา ลมพัดกระหน่ำบ้านนั้น แล้วบ้านนั้นก็พังลงอย่างย่อยยับ”
28Vả, khi Đức Chúa Jêsus vừa phán những lời ấy xong, đoàn dân lấy đạo Ngài làm lạ;
28เมื่อพระเยซูกล่าวคำเหล่านี้จบ ฝูงชนก็ประหลาดใจในคำสอนของพระองค์
29vì Ngài dạy như là có quyền, chớ không giống các thầy thông giáo.
29เพราะพระองค์สอนพวกเขาอย่างผู้มีอำนาจ ไม่เหมือนพวกอาลักษณ์
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.