Quan 11
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Kulish and Puluj Bible (1905)
1Giép-thê, người Ga-la-át, là tay dõng sĩ, con của một người kỵ nữ, và cha là Ga-la-át.
1Галаадїй Ефтай був чоловік хоробрий; він родився од блудницї; в Галаадї родився Ефтай.
2Vợ của Ga-la-át có sanh cho người những con trai. Khi các con trai của vợ ấy lớn lên, bèn đuổi Giép-thê đi, mà rằng: Mầy không được ăn phần gia tài trong nhà cha chúng ta, vì mầy là con của người đàn bà khác.
2І як жона Галаадова народила йому сини, а сини її повиростали, прогнали вони Ефтая і сказали йому: Тобі в нашій родинї нема наслїддя з нами: бо ти син другої жінки.
3Vậy, Giép-thê trốn xa anh em mình, và ở trong xứ Tóp. Có những đứa du đãng hiệp lại chung quanh Giép-thê, và đi ra với người.
3От і зник Ефтай од братів своїх, і пробував у землї Тоб: і зібрались там круг Ефтая волокити та й ходили за ним.
4Sau một ít lâu, dân Am-môn giao chiến cùng Y-sơ-ra-ên.
4Після якогось часу розпочали Аммонїї війну з Ізраїлем.
5Trong lúc dân Am-môn đánh Y-sơ-ra-ên, các trưởng lão Ga-la-át đi đem Giép-thê ở xứ Tóp về.
5Як же розпочали Аммонїї з Ізраїлем війну, пійшла старшина Галаадська, щоб узяти Ефтая з Тоб-землї.
6Họ nói cùng người rằng: Xin hãy đến làm quan tướng chúng ta, chúng ta sẽ đánh dân Am-môn.
6І мовляли вони до Ефтая: Іди до нас та й гетьмануй над нами, й будемо воювати з Аммонїями.
7Nhưng Giép-thê đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Các ông há chẳng phải là kẻ ghét tôi và đuổi tôi khỏi nhà cha tôi sao? Còn bây giờ các ông đang bị cùng-khốn, sao lại đến tôi?
7Відказує Ефтай начальникам Галаадським: Хиба ж то не ви зворогували на мене і прогнали з моєї родини?
8Các trưởng lão Ga-la-át đáp cùng Giép-thê rằng: Bây giờ chúng ta lại đến cùng ngươi, hầu cho ngươi đi với chúng ta: ngươi sẽ đánh dân Am-môn, rồi sẽ làm đầu của chúng ta, và của hết thảy dân xứ Ga-la-át.
8Старшина ж Галаадська промовила до Ефтая: Тому ж то тепер ми й прийшли до тебе, й коли пійдеш з нами та воювати меш із Аммонїями, так будеш головою над нами, над усїма осадниками Галаадськими.
9Giép-thê lại đáp cùng các trưởng lão Ga-la-át rằng: Ví bằng các ông đem tôi về đặng đánh dân Am-môn, và nếu Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay tôi, thì tôi sẽ làm đầu các ông chớ.
9І відказав Ефтай старшинї Галаадській: Коли мене вернете, щоб воював я Аммонїїв і Господь віддасть їх у мої руки, то чи справдї буду я в вас головою?
10Các trưởng lão Ga-la-át nói cùng Giép-thê rằng: Chúng ta quả sẽ làm y như lời ngươi đã nói; nguyện Đức Giê-hô-va làm chứng giữa chúng ta!
10І відказали Галаадські начальники Ефтайові: Нехай буде Господь сьвідком між нами, що ми так вчинимо, як ти оце сказав.
11Vậy, Giép-thê đi cùng các trưởng lão Ga-la-át; dân sự lập người làm đầu và tướng; rồi tại Mích-ba Giép-thê lặp lại trước mặt Đức Giê-hô-va hết thảy những lời người đã nói.
11Пійшов тодї Ефтай з старшиною Галаадською, і настановив його народ головою й гетьманом над собою, й принїс Ефтай усї свої бажання перед Господа в Массифі.
12Đoạn Giép-thê sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn mà nói rằng: Ta với ngươi có việc chi, nên ngươi kéo đến ta đặng hãm đánh xứ ta?
12І послав Ефтай посли до царя Аммонїйського з таким наказом: Що тобі до мене, що наступаєш на мене, щоб мою землю пустошити війною?
13Vua dân Am-môn đáp cùng sứ giả Giép-thê rằng: Aáy bởi Y-sơ-ra-ên khi ra khỏi nước Ê-díp-tô, có chiếm lấy xứ ta từ Aït-nôn cho đến Gia-bốc và Giô-đanh. Bây giờ hãy trả êm lại xứ ấy cho ta.
13І відказав царь Аммонїйський послам Ефтайовим: Ізраїль, ідучи з Египту, відняв у мене землю від Арнону до Ябоку й до Йорданї, так верни її тепер подобру.
14Giép-thê lại sai sứ giả đến cùng vua dân Am-môn đặng nói rằng:
14І послав Ефтай удруге посли до царя Аммонїйського,
15Giép-thê nói như vầy: Y-sơ-ra-ên không có xâm đoạt địa phận Mô-áp, cũng chẳng có chiếm lấy xứ của dân Am-môn.
15І наказав їм промовити: От що каже Ефтай: Ізраїль не відіймав у Моабіїв та в Аммонїїв їх землї;
16Song khi Y-sơ-ra-ên ra xứ Ê-díp-tô, thì đi ngang qua đồng vắng cho đến Biển đỏ, rồi tới Ca-đe.
16А як ійшов із Египту, і дійшов степом до Червоного моря, й прийшов у Кадес,
17Bấy giờ, người sai sứ giả đến vua Ê-đôm đặng tâu rằng: Xin cho tôi đi ngang qua xứ vua. Nhưng vua Ê-đôm không bằng lòng. Người cũng sai sứ giả đến vua Mô-áp, vua Mô-áp cũng không khứng cho, nên Y-sơ-ra-ên cứ ở tại Ca-đe.
17Дак вислав посли до царя Едомського з просьбою: дозволь менї перейти через твою землю! Та царь Едомський не вволив його волї. Так само послано було й до царя Моабійського, та не схотїв і той; тож пробував Ізраїль у Кадесї,
18Đoạn, người lại đi vào đồng vắng, vòng quanh xứ Ê-đôm và xứ Mô-áp; rồi đến cõi phía đông xứ Mô-áp. Người hạ trại ở bên kia Aït-nôn, không vào bờ cõi Mô-áp; vì Aït-nôn là giới hạn của xứ Mô-áp.
18І йшов собі пустинею, обійшов землю Едом і землю Моаб, і дійшов сим робом до займища на востоцї від Моабу, й таборували вони по тім боцї Арнону та й не ступили ступнем на Моабове займище: Арнон бо становить гряницю Моабську.
19Rốt lại, Y-sơ-ra-ên sai sứ giả đến cùng Si-hôn, vua người A-mô-rít, ở tại Bết-hôn, và dặn nói rằng: Xin để cho chúng tôi đi ngang qua xứ vua đặng đến xứ chúng tôi.
19І послав Ізраїль посли до Аморійського царя, Сигона, у Гесбон; і звелїв Ізраїль сказати йому: дозволь нам пройти через твою землю!
20Nhưng Si-hôn không đủ tin dân Y-sơ-ra-ên, nên không cho đi ngang qua xứ mình, bèn hiệp lại cả cơ binh mình, kéo đến đóng trại tại Gia-hát và chống đấu cùng Y-sơ-ra-ên.
20Сигон же не згодився пустити Ізраїля через своє займище, а скупив до купи ввесь народ свій, отаборивсь під Яазою та й ударив на Ізраїля.
21Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phó Si-hôn và cả cơ binh người vào tay Y-sơ-ra-ên. Y-sơ-ra-ên đánh bại chúng nó, và lấy toàn xứ dân A-mô-rít, là dân ở miền đó.
21І Господь, Бог Ізраїльський, подав Сигона й увесь люд його на поталу Ізраїлеві, і він побив їх, і одержав Ізраїль в наслїддє всю землю Аморія, що жив у нїй;
22Vậy, Y-sơ-ra-ên nhận được toàn xứ dân A-mô-rít, từ Aït-nôn cho đến Gia-bốc, và từ đồng vắng cho đến Giô-đanh.
22Сим робом одержали вони все займище Аморійське від Арнону до Ябоку, й від пустинї до Йорданї.
23Vậy bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã đuổi dân A-mô-rít khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài rồi, thì ngươi lại muốn chiếm lấy xứ của họ sao!
23Оце ж прогнав Господь, Бог Ізрайлів, Аморіїв перед своїм людом Ізраїлем, а ти хочеш увійти в його державу?
24Ngươi há chẳng nhận được đất mà Kê-mốt, là thần của ngươi, đã ban cho ngươi sao? Thế thì, chúng ta cũng nhận được đất của những kẻ nào mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã đuổi khỏi trước mặt chúng ta.
24Хиба ж ти не вживаєш те, що дав тобі Хамос, бог твій? Тож і ми ужиткуємо все те, що Господь, Бог наш, дав нам в наслїдню державу.
25Vả lại, ngươi cho trổi hơn Ba-lác, con trai Xếp-bô, vua Mô-áp chăng? Hắn há có khi nào cãi cọ hay là chiến đấu cùng Y-sơ-ra-ên chăng?
25Або хиба ти луччий за Балака Зипоренка, царя Моабського? Чи ж він судивсь із Ізраїлем або воювавсь із ним?
26Đang lúc ba trăm năm mà Y-sơ-ra-ên ở tại Hết-bôn và các thành địa hạt nó, A-rô-e và các thành địa hạt nó, cùng hết thảy các thành ở dọc theo Aït-nôn, sao ngươi không lấy nó lại trong khi đó?
26Уже триста год, як осївсь Ізраїль у Гесбонї і в займищах його, ув Ароері і по всїх його городах, по обох боках Арнону: чом же ви за ввесь той час не віднїмали їх?
27Vậy, ta không có phạm tội cùng ngươi, nhưng ngươi đã làm quấy cùng ta mà hãm đánh ta. Nguyện Đức Giê-hô-va, là Đấng đoán xét, ngày nay xét đoán giữa dân Y-sơ-ra-ên và dân Am-môn!
27Не заподїяв я тобі нїякого лиха, а ти кривдиш мене вриваючись до мене. Нехай Господь, суддя, судить між Ізраїлем і Аммонїями.
28Nhưng vua dân Am-môn không khứng nghe lời của Giép-thê sai nói cùng người.
28Та царь Аммонїйський не вважав на слова, що переказав йому послами Ефтай.
29Thần của Đức Giê-hô-va bèn cảm động Giép-thê; người trải qua Ga-la-át và Ma-na-se, sang đến Mích-ba ở Ga-la-át, rồi từ Mích-ba ở Ga-la-át, người đi đánh dân Am-môn.
29Тодї найшов на Ефтая дух Господень, і він перейшов Галаад і Манассію, і перейшов через Массифу Галаадську, а з Массифи Галаадської двинув проти Аммонїїв.
30Giép-thê khẩn nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay tôi, khi tôi thắng chúng nó trở về,
30І обрік Ефтай себе таким обітом: Коли ти справдї подаси Аммонїїв менї на поталу,
31hễ chi ở cửa nhà tôi đi ra đầu hết đặng đón rước tôi, thì nấy sẽ thuộc về Đức Chúa Trời, và tôi sẽ dâng nó làm của lễ thiêu.
31Тодї, хто б нї вийшов із дверей моєї господи зустріч мене, як я в мирі вернуся від Аммонїїв, нехай той буде Господеві, й я принесу його на всепаленнє.
32Đoạn, Giép-thê đi đến dân Am-môn đặng giao chiến cùng chúng nó, và Đức Giê-hô-va phó chúng nó vào tay người.
32І двинув Ефтай проти Аммонїїв воювати з ними, і подав Господь їх на поталу йому.
33Người đánh bại chúng nó từ A-rô-e cho đến Mi-nít, và cho đến A-bên-Kê-ra-mim, cùng chiếm lấy của chúng nó hai mươi cái thành. Aáy là một trận-bại rất lớn; dân Am-môn bị phục trước mặt dân Y-sơ-ra-ên.
33І побив він їх страшенно, від Ароера до Минита двайцять міст, і аж до Абель-Керамиму, й впокорились Аммонїї перед синами Ізрайлевими.
34Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-ba; kìa, con gái người ra đón-rước người, có cầm trống nhỏ và nhảy múa. Nàng là con một của người, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác hơn.
34Як же прийшов Ефтай в Массифу додому, аж виходить зустріч йому дочка його з музиками й танцями. Була вона в його дитина єдина; опріч неї не було нї сина, нї дочки.
35Giép-thê vừa thấy nàng, liền xé áo mình mà rằng: ù con, than ôi! con gây cho cha tức tối quá thay! Con thuộc vào số kẻ làm rối cha! Vì cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, không thế nuốt lời.
35Побачивши він її, розідрав одежу на собі й промовив: Ой доненько ж моя! як ти пригнула мене к земли! Ти ж то й занапастила мій супокій! Однакож відтворив я уста мої перед Господом, то й не візьму того назад.
36Nàng thưa rằng: Cha ôi, nếu cha có mở miệng khấn nguyện cùng Đức Giê-hô-va, xin hãy làm cho con y như lời ra khỏi miệng cha, vì bây giờ Đức Giê-hô-va đã báo thù kẻ cừu địch cha rồi, tức là dân Am-môn.
36Вона відказала йому: Батеньку мій! коли ти одверз уста твої перед Господом, дак чини зо мною так, як промовив єси. Дав же таки тобі Господь помститись над ворогами твоїми Аммонїями.
37Đoạn, nàng lại nói cùng cha mình rằng: Xin cha hãy nhậm cho con lời nầy: Để cho con thong thả trong hai tháng, con sẽ đi ở trên núi đặng cùng chị em bạn con khóc về sự đồng trinh của con.
37Просила тільки панотця свого: Дай менї ще два місяцї пожити: пійду я в гори та оплачу моє дївоцтво з подругами моїми.
38Giép-thê đáp rằng: Con cứ đi. Rồi người để nàng đi hai tháng. Vậy, nàng đi cùng chị em bạn mình, khóc sự đồng trinh mình tại trên núi.
38Він відказав: Ійди! І пустив її на два місяцї. І пійшла вона з подругами своїми та й оплакувала в горах дївоцтво своє.
39Cuối hai tháng, nàng trở về cha mình, và người làm cho nàng tùy theo lời khấn nguyện mình đã hứa. Nàng chẳng có biết người nam. Tại cớ đó trong Y-sơ-ra-ên có thường lệ nầy:
39Як уплило ж два місяцї, вернулась вона до панотця свого, й він справдив на їй обіт свій, що ним обрік себе, і вона не взнала мужа. І ввійшло в звичай в Ізраїлї,
40Mỗi năm, các con gái Y-sơ-ra-ên đi than khóc con gái của Giép-thê, người Ga-la-át, trong bốn ngày.
40Що з року в рік ходили Ізраїлські дївчата голосити по дочцї Ефтая Галаадянина, через чотири днї в роцї.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.