Ê-sai
Chapter 10
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Baibala Hemolele (…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Khốn thay cho những kẻ lập luật không công bình, cho những kẻ chép lời trái lẽ,
1A UWE ka poe kau i na kanawai hewa, A me ka poe kakauolelo, i kakau i na mea kekee;
2cất mất sự công bình khỏi kẻ nghèo, cướp lẽ phải của kẻ khốn khó trong dân ta, lấy kẻ góa bụa làm miếng mồi, kẻ mồ côi làm của cướp!
2I kipaku i ka poe kaumaha, mai ka hooponoia'ku, A kaili aku hoi i ka pono o ko'u poe kanaka poino, I pio ia lakou na wahinekanemake, A hao wale hoi i na keiki makua ole!
3Tới ngày thăm phạt, khi họa hoạn từ xa mà đến, các ngươi sẽ làm thể nào? Các ngươi trốn đến cùng ai để cầu cứu, và để sự vinh hiển mình ở nơi nào?
3Pehea la oukou e hana'i i ka la o ka hoopui ana, Ke hiki mai ka make mai kahi loihi mai? Ia wai oukou e holo ai no ke kokuaia mai? Mahea oukou e waiho ai i ko oukou waiwai?
4Chúng nó chỉ có khom lưng dưới những kẻ phu tù, và ngã dưới những kẻ bị giết! Dầu vậy, cơn giận của Chúa chẳng lánh khỏi, nhưng tay Ngài còn giơ ra.
4I haaleleia e au, e kulou no lakou malalo me na mea pio, A e hina hoi malalo me na mea i lukuia. Aole nae i huli aku kona huhu no keia mau mea a pau, Aka, ke o mai nei no kona lima i keia manawa.
5Hỡi A-si-ri, là cái roi của sự thạnh nộ ta! Cái gậy cầm trong tay nó là sự tức giận của ta vậy!
5Auwe ko Asuria! ka laau hahau o kuu ukiuki, A o ua laau hahau la, aia no ia ma ko lakou lima, Oia hoi kuu inaina.
6Ta sẽ sai nó nghịch cùng một nước chẳng tin kính; khiến nó đi đánh một dân mà ta nổi giận, để cướp lấy, bóc lột, và giày đạp chúng nó như bùn ngoài đường.
6E hoouna aku au ia ia, e ku e i ka lahuikanaka aia, E kauoha aku no wau ia ia, E ku e i ka poe kanaka a'u i huhu ai; E hao aku i ka waiwaipio, a e lawe aku hoi i ka mea i paa; A e hahi ia lakou ilalo, e like me ka lepo o ke alanui.
7Nhưng nó không có ý thế, trong lòng nó chẳng nghĩ như vậy: lại thích phá hại, và hủy diệt nhiều dân.
7Aole pela kona manao, Aole i noonoo kona naau pela; O ka luku no ka mea iloko o kona naau, A e anai aku i na aina he nui loa.
8Vì nó nói rằng: Các quan trưởng của ta há chẳng phải đều là vua sao?
8I mai la ia, aole anei he poe alii nui ko'u poe alii?
9Há lại Ca-nô chẳng như Cạt-kê-mít, Ha-mát chẳng như Aït-bát, Sa-ma-ri chẳng như Đa-mách sao?
9Aole anei i like o Kaleno me Karekemisa? A o Hamata hoi me Arepada? A o Samaria me Damaseko?
10Như tay ta đã tới đến các nước của thần tượng, tượng chạm của họ lại hơn của Giê-ru-sa-lem và Sa-ma-ri nữa,
10E like me ka loaa i kuu lima na aupuni o na'kua kii, Ua oi aku ko lakou akua kii mamua o ko Ierusalema, A mamua hoi o ko Samaria;
11thì ta há chẳng sẽ làm cho Giê-ru-sa-lem và thần tượng nó cũng như ta đã làm cho Sa-ma-ri và thần tượng nó sao?
11Me au i hana aku ai ia Samaria a me kona poe akua kii, Aole anei au e hana pela ia Ierusalema a me kona mau akua?
12Nên sẽ xảy ra khi Chúa đã làm xong cả việc trên núi Si-ôn và tại Giê-ru-sa-lem, thì chính ta sẽ hành phạt những bông trái bởi lòng kiêu ngạo và sự vinh hiển của con mắt ngó cao của vua A-si-ri.
12A hiki aku i ka wa, e hooki ai ka Haku i kana hana a pau, Maluna o ka mauna o Ziona, a me Ierusalema, Alaila wau e hoopai aku ai i ka hua o ka naau kiekie o ke alii o Asuria, A me ka hookano ana o kona maka hookiekie.
13Vì người nói rằng: Ta đã làm điều đó bởi sức mạnh của tay ta, bởi sự khôn ngoan ta, vì ta là thông minh. Ta đã dời đổi giới hạn các dân; đã cướp của quí họ, như một người mạnh đã làm cho những kẻ đang ngồi phải xuống.
13No ka mea, ua olelo mai ia, Ua hana au i keia, i ka ikaika o ko'u lima iho, A i kuu akamai hoi, no ka mea, ua maalea au. Na'u no i hooneenee i na mokuna o na aina, A ua hao aku au i ko lakou waiwai, A e like hoi me ke kanaka koa, ua hoohaahaa wau i ka poe e noho ana.
14Tay ta đã tìm được của cải các dân như bắt ở chim, vơ vét cả đất như lượm trứng đã bỏ; chẳng có ai đập cánh, mở mỏ, hay là kêu hót!
14Me he punana la i loaa'i i kuu lima ka waiwai o na lakuikanaka; A e like me ka hoiliili ana o na hua manu i haaleleia, Pela no wau i hoiliili ai i ko na aina a pau; Aohe mea i upoi ka eheu, Aohe mea i hamama ka waha a ioio.
15Cái rìu há lại khoe mình cùng người cầm rìu ư? Cái cưa há lại dấy lên nghịch cùng kẻ cầm cưa ư? Thế cũng như cái roi vận động kẻ giơ roi, cái gậy nâng đỡ cánh tay cầm gậy!
15E hookiekie anei ke koilipi maluna o ka mea nana e kalai me ia? E haanui anei ka pahiolo maluna o ka mea nana ia e oloolo? Me he laau la i wiliwili i kona mea nana e hapai, E like me ke kookoo hoi i hoala ia ia iho me he mea laau ole la.
16Vậy nên, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, sẽ làm cho những người mập mạnh của nó trở nên gầy mòn, và dưới sự vinh hiển nó sẽ đốt cháy lên như lửa thiêu đốt.
16Nolaila e hoouna mai ai ka Haku, ka Haku o na kaua, I ka wiwi maluna o kona poe puipui; A malalo iho o kona nani e puhi ai oia i ka mea aa, E like me ke aa ana o ke ahi.
17Sự sáng của Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên lửa, Đấng Thánh nó sẽ trở nên ngọn đèn, chỉ trong một ngày, đốt tiêu gai gốc và chà chuôm nó;
17E lilo no ka malamalama o Iseraela i ahi, A o kona Mea Hemolele hoi i lapalapa ahi; A e puhi no ia, a e hoopau ma ka la hookahi, I kona nahele ooi, a me kona laau kalakala.
18lại thiêu hủy vinh hoa của rừng cây và ruộng màu mỡ nó, cả linh hồn và thân thể; như kẻ cầm cờ xí ngất đi vậy.
18E hoopau loa no ia i ka nani o kona ululaau, A me ka mahinaai hua nui, mai ka uhane a ke kino; A e like auanei ia me ka mea mai hokii loa.
19Bấy giờ những cây trên rừng nó còn sót lại chẳng là bao, một đứa bé con có thể chép lấy được.
19E uuku ana no ke koena o kona ululaau, E hiki no i ke keiki uuku ke palapala ia lakou.
20Trong ngày đó, dân sót của Y-sơ-ra-ên, và người thoát nạn của nhà Gia-cốp, sẽ không cậy kẻ đánh mình nữa; nhưng thật lòng cậy Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
20A hiki aku i kela la, O ke koena o ka Iseraela, O ka poe hoi i pakele o ka ohana a Iakoba, Aole lakou e hilinai hou maluna o ka mea nana lakou i pepehi; Aka, e hilinai io no maluna o Iehova, A maluna hoi o ka Mea Hemolele o ka Iseraela.
21Một số dân sót, tức là dân sót của Gia-cốp, sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời quyền năng.
21He koena no ke hoi mai, he koena no Iakoba, I ke Akua mana loa.
22Hỡi Y-sơ-ra-ên, dầu dân ngươi như cát biển, chỉ một phần sót lại sẽ trở lại. Sự hủy diệt đã định, bởi vì sự công bình tràn khắp.
22Ina paha i like kou poe kanaka o Iseraela, Me ke one o ke kai, He koena wale no o lakou ke hoi mai; Ua holo ka olelo no ka hoopau ana, E hiki wawe mai ia, me ka pololei hoi.
23Vì Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, đã định làm trọn sự hủy diệt trong khắp đất.
23He oiaio no, ua holo ka olelo no ka hoopau ana, A na ka Haku no, na Iehova o na kaua e hana mai, Mawaena konu o ka aina a pau.
24Vậy có lời Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán như vầy: Hỡi dân ta, ngươi ở tại Si-ôn, chớ sợ người A-si-ri, dầu họ lấy roi đánh ngươi và giá gậy trên ngươi theo cách người Ê-díp-tô.
24Nolaila i olelo mai ai ka Haku, o Iehova o na kaua, peneia, E ko'u poe kanaka e noho la ma Ziona, Mai makau oukou i ko Asuria; E hahau mai no lakou me ka laau hahau, A e hapai no hoi i ke kookoo maluna ou, E like me ka hana ana o Aigupita.
25Vì còn ít lâu nữa, ta sẽ hết giận các ngươi; cơn thạnh nộ ta trở nghịch cùng dân ấy đặng hủy diệt nó.
25Aka, he wahi manawa uuku no e koe, Alaila, e kaa no kuu inaina, a me ko'u ukiuki hoi. Ma ke anaiia'ku o lakou.
26Bấy giờ Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ giá roi trên họ, như Ngài đã đánh giết người Ma-đi-an nơi vầng đá Hô-rếp; lại sẽ giơ gậy trên biển, sẽ giơ lên như đã làm trong xứ Ê-díp-tô.
26Na Iehova o na kaua e hapai i laau hahau maluna o lakou, E like me ka hahau ana i ko Midiana ma ka pohaka o Oreba: A me ka laau ana i hapai ai maluna o ke kai, E hapai no oia ia e like me kana hana ana i ko Aigupita.
27Trong ngày đó, gánh nặng nó sẽ cất khỏi vai ngươi, ách nó cất khỏi cổ ngươi, ách sẽ bị gãy vì sự béo mập.
27A hiki mai ia la, E laweia'ka kona mea kanmaha, mai koa poohiwi ako, A me kona auamo maluna ako o kou a-i, E hakiia auanei imua o ka mea puipui
28Nó đi đến A-giát: trải qua Mi-gơ-rôn, để đồ đạc tại Mích-ma.
28Ua hele mai ia i Aiata, ua hala loa aku i Migerona, Ua waiho no i kana ukana ma Mikemasa:
29Chúng nó vuợt qua ải, đóng trại tại Ghê-ba; Ra-ma run sợ; Ghi-bê-a của Sau-lơ chạy trốn.
29Ua hele mai lakou ma keia aoao o ke ahua; Aia ma Geba ko lakou wahi moe i ka po: Ua makau ko Rama; ua holo ko Gibea Saula.
30Hỡi con gái Ga-lim, hãy cất tiếng kêu to! Hỡi người La-ít, hãy ghé tai mà nghe! Thương thay cho người A-na-tốt!
30E hookiekie i koa leo, e ke kaikamahine a Galima; E hoolohe oe, e Laisa; Auwe Anatota poino!
31Mát-mê-na trốn tránh; dân cư Ghê-bim tìm chỗ núp.
31Ua holo o Mademena: Ua hee ka poe i noho ma Gebima.
32Chính ngày đó chúng nó sẽ đóng tại Nóp, và vung tay nghịch cùng núi của con gái Si-ôn, nghịch cùng đồi của Giê-ru-sa-lem!
32Hookahi no la e koe o kona noho ana ma Noba, A e lulu ia i kona lima e ku e i ka mauna o ke kaikamahine o Ziona, I ka puu hoi o Ierusalema.
33Nầy, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, sẽ dùng oai mạnh đốn các nhánh cây; những kẻ cao lớn đều bị chặt, những kẻ kiêu ngạo bị hạ xuống.
33Aia hoi, na ka Haku, na Iehova o na kaua, E okioki i na lala me ka weliweli, A e kuaia ilalo na mea kiekie loa, A e hoohaahaaia na mea hookano.
34Ngài dùng sắt chặt những bụi rậm trên rừng, và Li-ban bị ngã xuống bởi người mạnh sức.
34E kuaia ilalo me ka hao i na ululaau paapu, A e haule hoi o Lebanona imua o ka mea mana.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.