Ê-sai 22
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Gánh nặng về trũng của sự hiện thấy. Ngươi có sự gì mà cả dân trèo lên nóc nhà như vậy?
1KA wanana no ke awawa o ka ikeana, Heaha kau i keia wa, I pii ai oukou a pau iluna o na kaupaku hale?
2Hỡi thành xôn xao, đầy sự om sòm, là ấp vui vẻ kia; các kẻ chết của ngươi chẳng phải chết vì gươm, cũng không phải là tử trận.
2O oe ka mea i walaau no ka lako, Ke kulanakauhale wawa nui, Ke kulanakauhale olioli; O kou poe i lukuia, aole lakou i lakuia i ka pahikaua, Aole lakou i make i ka hoouka ana.
3Các quan cai trị của ngươi thảy đều cùng nhau chạy trốn, bị trói bởi những kẻ cầm cung; còn trong dân ngươi, kẻ nào trốn xa mà người ta tìm thấy, thì đã bị trói làm một.
3Ua auhee pu aku no kou poe luna a pau, Ua pio lakou i ka poe pana; O ka poe a pau i loaa maloko ou, ua pio lakou, Ua hee no hoi, mai kahi loihi mai.
4Vậy nên ta phán rằng: Các ngươi chớ ngó ta, ta sẽ khóc lóc thảm thiết. Đừng tìm cách yên ủi ta về sự hủy diệt của con gái dân ta!
4Nolaila au i olelo ai, E huli ae oukou mai o'u aku nei, e uwe nui loa ana au: Mai hooikaika e hoomaha mai ia'u, No ka lukuia o ke kaikamahine o ko'u poe kanaka.
5Vì ấy là ngày bị rối loạn, giày đạp, và kinh hãi trong trũng của sự hiện thấy, đến bởi Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân; tường thành vỡ lở, tiếng kêu đến núi.
5No ka mea, he la haunaele keia, A me ka hahi ana, a me ka pilikia, Na ka Haku, na Iehova o na kaua ma ke awawa o ka ikeana, Ua wawahiia ka pa, olo ae la ka pihe a kuahiwi.
6Ê-lam đeo giỏ tên, có xe binh lính kỵ đi theo, và Ki-rơ để trần cái thuẫn,
6Ke amo nei o Elama i ke aapua, Me na kanaka iloko o ke kaakaua a me na hololio, A unuhi o Kira i ka palekaua.
7các nơi trũng đẹp nhất đầy những xe cộ, và lính kỵ dàn trận tại trước cửa thành.
7E piha auanei i na kaakaua kou mau awawa i makemakeia, A e hoomakaukau na hololio e hoouka ma ka pukapa.
8Màn che Giu-đa đã cất rồi; và trong ngày đó ngươi trông về khí giới của nhà rừng.
8Wehe ae la oia i ka mea i uhi ai i ka Iuda, A ia la nana aku la oe ma ka hale kahikokaua o ka ululaau,
9Các ngươi thấy thành Đa-vít bị nhiều nơi sứt mẻ, bèn thâu chứa nước ao dưới lại.
9A ike no hoi oukou i na wahi naha o ke kulanakauhale o Davida, ua nui; A hoohui oukou i na wai o ka waipuna lalo,
10Các ngươi đếm nhà cửa Giê-ru-sa-lem, phá những nhà cửa để tu bổ tường thành;
10Ua helu oukou i na hale o Ierusalema, Ua wawahi oukou i na hale i mea e hoopaa ai i ka papohaku.
11lại đào hồ giữa khoảng hai tường thành đặng chứa nước ao cũ. Nhưng các ngươi chẳng trông lên Đấng làm nên sự đó; chẳng nhìn xem Đấng đã định sự đó từ xưa.
11A hana no oukou i lokowai mawaena o na pa elua, No ka wai o ka waipuna kahiko; Aole oukou i nana aku ma ka Mea nana ia i hana. Aole oukou i manao aku i ka Mea nana ia i hooponopono i ka wa kahiko.
12Trong ngày đó, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, gọi các ngươi khóc lóc, thở than, cạo đầu, và thắt bao gai;
12Ia la, hea mai no ka Haku, o Iehova o na kaua, E uwe, a e kumakena, I ka ohule ana, a me ke kaei kapa inoino.
13thế mà trong các ngươi có sự vui mừng hớn hở. Người ta mổ bò, giết chiên, ăn thịt, uống rượu: Hãy ăn uống đi, vì ngày mai chúng ta sẽ chết!
13Aia hoi, he olioli, a me ka hauoli, E kalua ana i na bipi, e pepehi ana hoi i na hipa, E ai ana i ka io, e inu ana hoi i ka waina: E ai kakou, e inu hoi, no ka mea, apopo e make ana kakou.
14Vả, Đức Giê-hô-va vạn quân tỏ mình trong tai tôi rằng: Tội ấy chắc sẽ chẳng hề được tha cho các ngươi cho đến giờ các ngươi chết, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán vậy.
14Na Iehova o na kaua i hoike mai maloko o ko'u mau pepeiao, Aole e kalaia keia hewa o oukou, a make oukou, Wahi a ka Haku, o Iehova o na kaua,
15Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán như vầy: Ngươi hãy đi, đến nhà kẻ giữ kho, tức Sép-na, làm chức giám cung, và bảo nó rằng:
15Olelo mai ka Haku, o Iehova o na kaua, penei, O hele, a hiki aku oe i keia puuku ia Sebena i ka mea maluna o ka hale, a e olelo aku,
16Ngươi ở đây làm gì? có bà con chi đây, mà ngươi đã đục tại đây một huyệt mả? Thật người đục cho mình một huyệt mả trên nơi cao, khiến đào cho mình một chỗ ở trong vầng đá!
16Heaha kau ia nei, a owai hoi kou poe maanei, I kalai ai oe i hale kupapau nou maanei? Ua kalai no oia i hale kupapau nona ma kahi kiekie, Ua pao hoi oia i hale nona maloko o ka pohaku.
17Nầy, Đức Giê-hô-va, khác nào kẻ sức khỏe, sẽ quăng mạnh người ra nơi xa, và bọc chặt ngươi.
17Aia hoi e kipaku no o Iehova ia oe, He kipaku ino loa ana, E oiaio no e uhi mai oia ia oe.
18Ngài ắt sẽ quấn ngươi, và ném ngươi như quả bóng vào xứ rộng và khoảng khoát. Tại đó ngươi sẽ chết, xe cộ sang trọng của ngươi cũng theo đến đó, ôi, ngươi là kẻ làm nhục cho nhà chủ mình!
18E olokaa no oia ia oe me he mea poepoe la, E kaa aku ana i ka aina palahalaha ma na aoao; Malaila oe e make ai, A malaila e lilo ai kou mau kaakaua nani, i mea e hilahila ai ka hale o kou haku.
19Ta sẽ cách chức ngươi, ngươi sẽ bị truất khỏi ngôi mình.
19E kipaku aku wau ia oe mai kou wahi aku, Mai kou wahi aku oia e kaili aku ai ia oe.
20Trong ngày đó, ta sẽ gọi đầy tớ ta là Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia,
20A hiki aku ia la, E hea aku wau i ka'u kauwa, ia Eliakima i ke keiki a Hilekia;
21lấy áo ngươi mặc cho nó, lấy đai ngươi giúp sức nó, lấy chánh trị ngươi trao trong tay nó, nó sẽ làm cha cho dân cư Giê-ru-sa-lem và cho nhà Giu-đa.
21A e hoaahu aku wau ia ia i kou aahu, A e kaei aku wau ia ia me kou kaei, A e haawi aku wau i kou alii ana iloko o kona lima, A e lilo ia i makua no ka poe e noho la ma Ierusalema, A no ko ka hale o ka Iuda.
22Ta sẽ đem chìa khóa nhà Đa-vít để trên vai nó; hễ nó mở, không ai đóng được; nó đóng, không ai mở được.
22E kau no wau i ke ki o ka hale o Davida ma kona poohiwi, A nana no e wehe, aohe mea nana e pani, A nana no e pani, aohe mea nana e wehe.
23Ta sẽ đóng nó xuống như đinh đóng nơi vững chãi; và nó sẽ trở nên một ngôi vinh hiển cho nhà cha mình.
23A e hoopaa aku au ia ia me he makia la ma kahi paa, A e lilo ia i nohoalii nani loa no ko ka hale o kona makua.
24Người ta sẽ treo trên nó mọi sự vinh hiển của nhà cha mình, con cái dòng dõi, và hết thảy những đồ đựng bé nhỏ nữa, từ cái chén đến cái ve.
24A e kau no lakou maluna ona i ka nani a pau o ka hale o kona makua; O na mamo, a me na pua, o na kiaha uuku a pau, Mai na kiaha bola maikai a pau, a i na kiaha lepo a pau.
25Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng: Trong ngày đó, cái đinh đóng nơi vững chãi sẽ lỏng xệch; nó sẽ bị đập và rớt xuống, và gánh nặng treo trên nó sẽ bị cắt đứt. Vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy.
25A hiki aku ia la, wahi a Iehova o na kaua, E unuhiia ka makia i hoopaaia ma kahi paa, E kuaia ia ilalo a e hina hoi; A e hoopauia auanei ka mea i kauia maluna ona, No ka mea, ua olelo mai o Iehova.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.