Ê-sai 21
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Gánh nặng về đồng vắng ở gần biển. Nó đến từ đồng vắng, là đất đáng kinh khiếp, khác nào cơn gió lốc vụt qua trong phương nam.
1KA wanana no ka waonahele o ka moana. Like me ka holo ana o ka puahiohio ma ke kukulu hema, Pela no kona hele ana, mai ka waonahele mai, Mai ka aina weliweli mai hoi.
2Có sự hiện thấy hãi hùng đã tỏ ra cho tôi: kẻ gian dối ở gian dối, kẻ tàn hại làm tàn hại! Hỡi người Ê-lam, hãy lên; Hỡi người Mê-đi, hãy vây đi! Ta sẽ làm cho dứt mọi tiếng than thở nó.
2He wanana weliweli ka i hoikeia mai ia'u; O ka mea e luku aku, e luku aku no ia, O ka mea i anai aku, e anai aku no ia. O pii, e Elama; e hoopuni aku, e Media: Ua hoopau wau i kona uwe ana a pau.
3Vậy nên lưng ta đau lắm, quặn thắt như đàn bà đang sanh đẻ; sự đau đớn mà ta chịu, làm cho ta không nghe, sự kinh hãi làm cho ta không thấy!
3Nolaila i piha ai ko'u puhaka i ka eha, Ua loohia au i ke nahu kuakoko, E like me ke kuakoko o ka wahine hanau keiki; Kupaka au i kuu lohe ana, Makau no hoi au i kuu ike ana.
4Lòng ta mê muội, rất nên khiếp sợ; vốn là chiều hôm ta ưa thích, đã đổi ra sự run rẩy cho ta.
4Ua kulanalana ko'u naau, Pihoihoi au i ka makau; Ua hoolilo oia i ka po o kuu olioli, I mea weliweli no'u.
5Người ta đặt bàn tiệc, cắt kẻ canh giữ; người ta ăn và uống. Hỡi các quan trưởng, hãy chờ dậy! Hãy thoa dầu cho cái thuẫn!
5E hoomakaukau i ka papaaina, E kiai ka poe kiai, e ai, a inu hoi; E ala oukou, e na'lii, e kahinu i ka palekaua.
6Vì Chúa phán cùng tôi như vầy: Hãy đi, sắp đặt vọng canh, thấy việc gì thì báo.
6No ka mea, penei i olelo mai ai ka Haku ia'u, O hele, e hoonoho i ke kiai ma ka hale kiai, E hai mai oia i kona mea e ike ai.
7Khi nó thấy quân lính cỡi ngựa đi từng cặp, và có lừa cùng lạc đà từng bầy, thì nó phải chăm chỉ mà nghe.
7A ike iho la oia, he mau hololio kaua palua, He holo hoki, a he holo kamelo; Hooikaika loa iho la oia e hoolohe aku:
8Đoạn nó kêu lên như sư tử, mà rằng: Hỡi Chúa, tôi đứng rình nơi chòi trông cả ngày, và đứng tại chỗ tôi canh cả đêm.
8A hea mai la hoi ia, me he liona la, E kuu haku, ua ku mau no wau ma ka halekiai i ke ao, Ua hoonohoia no hoi au ma kuu wahi kiai, i na po a pau:
9Nầy, có quân lính cỡi ngựa đi từng cặp mà đến. Nó đáp rằng: Ba-by-lôn đổ xuống rồi, đổ xuống rồi! Mọi hình tượng tà thần của nó đã bể nát trên đất rồi!
9Aia hoi, hele mai kekahi mau hololio kaua, o na hololio papalua. Olelo mai la, i mai, Ua haule o Bahulona, ua haule; Ua hoohiolo oia i kona poe akua kii ilalo i ka honua.
10Hỡi lúa bị đạp của ta, là thóc trên sân kia! sự ta đã nghe từ Đức Giê-hô-va vạn quân, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì ta đã bảo cho ngươi biết.
10Auwe kuu mea i hahiia, ke keiki hoi o ko'u kahua hahi! O ka mea a'u i lohe ai, no Iehova o na kaua mai, Ke Akua o ka Iseraela, Oia ka'u e hai aku nei ia oukou.
11Gánh nặng về Đu-ma. Có người từ Sê-i-rơ kêu tôi rằng: Hỡi người canh, đêm thể nào? Hỡi người canh, đêm thể nào?
11Ka wanana no Duma. Hea mai no oia ia'u mai Seira mai, E ke kiai, heaha ko ka po? E ke kiai, heaha ko ka po?
12Người canh đáp rằng: Buổi sáng đến; đêm cũng đến. Nếu muốn hỏi thì hỏi đi; hãy trở lại, hãy đến.
12Hai mai ke kiai, Ke hiki mai la ke kakahiaka, a me ka po hoi! Ina makemake oukou e ninau, e ninau no; E hoi hou mai.
13Gánh nặng về A-ra-bi. Hỡi đoàn đi buôn ở Đê-đan, sẽ ngủ trong rừng xứ A-ra-bi. Dân cư Thê-ma đã đem nước cho những kẻ khát;
13Ka wanana no Arabia. Ma ka ululaau o Arabia oukou e moe ai, E na huakaihele o Dedana!
14đã đón những người trốn đặng cho họ bánh.
14E ka poe noho ma ka aina o Tema, e lawe mai i ka wai, E halawai me ka poe makewai, Me ka berena e kakali ai i ka mea auwana.
15Vì họ trốn gươm, trốn gươm trần, trốn cung giương ra, trốn sự chiến tranh kinh khiếp.
15Mai ka maka aku o ka pahikaua lakou e hee ai, Mai ke alo aku o na pahikaua i unuhiia, Mai ke alo aku o ke kakaka i lena, A mai ke alo aku o ke kaua ikaika.
16Chúa đã phán cùng tôi như vầy: Trong một năm nữa, kể như năm kẻ ở mướn, cả sự vinh hiển của Kê-đa sẽ hao mòn.
16No ka mea, penei i olelo mai ai ka Haku ia'u, Hookahi makahiki e koe, e like me ka makahiki o ka paaua, E pau no ka nani a pau o Kedara.
17Những kẻ cầm cung mạnh mẽ, là con cái của Kê-đa, sẽ sót lại chẳng bao lăm. Vì Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán vậy.
17O ke koena o ka poe i heluia o ka poe akamai i ka pana, O na koa hoi o Kedara, e emi no lakou: No ka mea, ua olelo mai no o Iehova, ke Akua o ka Iseraela.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.