Ê-sai 49
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Hỡi các cù lao, hãy nghe ta! Hỡi các dân xa lạ, hãy ghé tai! Đức Giê-hô-va đã gọi ta từ trong bụng mẹ, đã nói đến danh ta từ lòng dạ mẹ ta.
1E HALIU mai oukou ia'u, e na aina e, E hoolohe hoi oukou, e na lahuikanaka, ma kahi mamao aku; Hea mai o Iehova ia'u mai ka opu mai, Mai ka opu mai hoi o ko'u makuwahine, ua hoike oia i ko'u inoa.
2Ngài đã khiến miệng ta giống như gươm bén; lấy bóng tay Ngài mà che ta; làm cho ta như tên nhọn, và giấu ta trong bao tên.
2Ua hana oia i ko'u waha a like me ka pahikaua oi, Ua huna mai oia ia'u ma ke aka o kona lima, Ua hana mai oia ia'u, a like me ka pua i anaiia, Ua huna mai oia ia'u iloko o kona aapua,
3Ngài phán cùng ta rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi là tôi tớ ta, ta sẽ được sáng danh bởi ngươi.
3Ua olelo mai oia ia'u, O oe no ka'u kauwa, O Iseraela hoi oe, ka mea a'u e hoonaniia'i.
4Ta có nói rằng: Ta đã làm việc luống công, đã hao sức vô ích và không kết quả. Song lẽ ngay thẳng của ta ở nơi Đức Giê-hô-va, sự ban thưởng cho ta ở nơi Đức Chúa Trời ta.
4Alaila, i iho la au, Ua hooikaika makehewa au, No ka ole, a no ka lapuwale au i hoopau ai i ko'u ikaika; Me Iehova nae ko'u aponoia. Me ko'u Akua hoi ka'u hana ana.
5Bây giờ, Đức Giê-hô-va là Đấng đã lập ta làm tôi tớ Ngài từ trong bụng mẹ, có khiến ta dẫn Gia-cốp đến cùng Ngài, và nhóm Y-sơ-ra-ên về cùng Ngài; vì ta được tôn trọng trước mắt Đức Giê-hô-va, và Đức Chúa Trời ta là sức mạnh ta.
5Ano ke olelo mai nei o Iehova, Ka mea i hana mai ia'u i kauwa nana, mai ka opu mai, I mea hoi e hoihoi mai i ka Iakoba ia ia, Ina e hoakoakoa ole ia ka Iseraela, E nani io no nae au ma na maka o Iehova, O ko'u Akua hoi oia ko'u ikaika.
6Ngài có phán cùng ta rằng: Ngươi làm tôi tớ ta đặng lập lại các chi phái Gia-cốp, và làm cho những kẻ được gìn giữ của Y-sơ-ra-ên lại được trở về, còn là việc nhỏ; ta sẽ khiến ngươi làm sự sáng cho các dân ngoại, hầu cho ngươi làm sự cứu rỗi của ta đến nơi đầu cùng đất.
6I mai la ia, He mea uuku ia e lilo oe i kauwa na'u, E hooku mai i na ohana o ka Iakoba, A e hoihoi i ka poe i malamaia o ka Iseraela; E haawi no hoi au ia oe i malamalama no ko na aina e, I lilo oe i mea hoola aku no'u, ma na kukulu o ka honua,
7Đức Giê-hô-va, Đấng Cứu chuộc Y-sơ-ra-ên, và Đấng Thánh của Ngài, phán cùng người bị loài người khinh dể, bị dân nầy gớm ghiếc, là người làm tôi kẻ có quyền thế, như vầy: Các vua sẽ thấy và đứng dậy; các quan trưởng sẽ quì lạy, vì cớ Đức Giê-hô-va là Đấng thành tín, tức là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã chọn ngươi.
7Penei ka olelo ana mai a Iehova, Ka Hoolapanai o ka Iseraela, kona mea Hemolele hoi, I ka mea i hoowahawahaia e na kanaka, I ka mea a ka lahuikanaka i hoopailua ai, I ke kauwa hoi na ka poe e noho alii ana, E ike aku na'lii a e ku iluna, E kulou aku no hoi na luna, No Iehova, ka mea oiaio, ka Mea Hemolele o ka Iseraela, Nana no e makemake aku ia oe.
8Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta đã nhậm lời ngươi trong kỳ thuận tiện, đã vùa giúp ngươi trong ngày cứu rỗi. Ta sẽ gìn giữ ngươi, phó ngươi làm giao ước của dân, đặng lập lại xứ nầy và chia đất hoang vu làm sản nghiệp cho;
8Ke olelo mai nei o Iehova penei, I ka manawa aloha, ua hoolohe aku au ia oe, A i ka la hoola, ua kokua aku no au ia oe; A na'u hoi e malama aku ia oe, A e haawi no hoi ia oe i berita no na kanaka, I mea e paa ai ka aina, e hooili aku no hoi i na hooilina neoneo;
9đặng bảo kẻ bị trói rằng: Hãy ra, và bảo kẻ ở trong nơi tối tăm rằng: Hãy tỏ mình! Họ sẽ chăn thả trên đường, và đồng cỏ họ sẽ ở trên các núi trọi.
9I olelo no hoi oe i ka poe i paa, E hele iwaho, A i ka poe ma ka pouli, E hoike ia oukou iho. E ai no lakou ma na alanui, A ma na puu a pau ka lakou ai.
10Họ sẽ không đói không khát, hơi nắng chẳng đốt đến, khí nóng mặt trời chẳng phạm đến nữa; vì Đấng thương xót họ sẽ dắt dẫn, đem họ đến gần suối nước.
10Aole lakou e pololi, aole e makewai; Aole e hahau mai ka wela, a me ka la ia lakou; No ka mea, o ka mea aloha ia lakou, nana lakou e alakai, E alakai aku no oia ia lakou i na waipuna.
11Ta sẽ làm cho mọi núi ta nên đường phẳng, và các đường cái ta sẽ được sửa sang.
11E hoolilo ana no au i ko'u mau kuahiwi a pau, i alanui, A e hookiekieia hoi ko'u mau kuamoo.
12Nầy, những kẻ nầy sẽ đến từ nơi xa; kìa, những kẻ kia sẽ đến từ phương bắc, những kẻ nọ từ phương tây, và những kẻ khác từ xứ Si-ni.
12Aia hoi, e hele mai no keia poe, ma kahi loihi mai; Aia hoi, o keia poe, mai ke kukulu akau, a mai ke komohana mai; A o keia poe hoi, mai ka aina o Sinima mai.
13Hỡi trời, hãy hát! Hỡi đất, hãy vui mừng! Hỡi các núi, hãy lên tiếng hát xướng! Vì Đức Giê-hô-va đã yên ủi dân Ngài, cũng thương xót kẻ khốn khó.
13E oli oukou, e na lani, e hauoli hoi, e ka honua; E hookani i ke oli, e na mauna; No ka mea, ua hoomaha mai o Iehova i kona poe kanaka, A e aloha mai no hoi ia i kona poe i hoopilikiaia.
14Si-ôn từng nói rằng: Đức Giê-hô-va đã lìa bỏ ta; Chúa đã quên ta.
14Aka, ua olelo mai o Ziona, Ua haalele o Iehova ia'u, Ua hoopoina hoi ko'u Haku ia'u.
15Đàn bà há dễ quên con mình cho bú, không thương đến con trai ruột mình sao? Dầu đàn bà quên con mình, ta cũng chẳng quên ngươi.
15E hiki anei i ka wahine ke hoopoina i kana keiki aiwaiu, I ole ia e aloha aku i ke keiki a kona opu? Oia, e hiki no ia lakou ke hoopoina. Aka, aole au e hoopoina ia oe.
16Nầy ta đã chạm ngươi trong lòng bàn tay ta; các tường thành ngươi thường ở trước mặt ta luôn.
16Aia hoi, ua kahakaha au ia oe ma na poho lima o'u; Ua mau loa no kou mau papohaku ma ko'u alo.
17Con cái ngươi chóng về; kẻ phá hại hủy diệt ngươi sẽ ra khỏi giữa ngươi.
17E hiki wawe no kau mau keiki; O ka poe nana oe i pepehi, A me ka poe i hooneoneo ia oe, e puka aku no lakou mawaho ou.
18Hãy liếc mắt xem xung quanh ngươi: những kẻ nầy đều nhóm lại và đến cùng ngươi! Đức Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ngươi sẽ mặc lấy những kẻ nầy như đồ trang sức, và dùng mà thắt đai như nàng dâu mới!
18E alawa ae oe i kou mau maka mao, a mao, e nana hoi; Akoakoa mai lakou a pau, a hele mai iou la. Me au e ola nei, wahi a Iehova, E aahu io no oe ia lakou a pau me he kahiko la, A e kakoo hoi ia lakou, e like me ka wahine mare.
19Thật, các nơi đổ nát, hoang vu, xứ bị phá hại của ngươi, nay có đông người ở thành ra chật hẹp quá. Những kẻ nuốt ngươi sẽ lánh xa ngươi.
19No ka mea, o kou mau wahi mehameha, a neoneo, A me ka aina o kou luku ana, E pilikia ana no ia, no ka nui o ka poe e noho ana; A e loihi lilo aku no hoi ka poe i ale ia oe.
20Con cái mà ngươi sẽ có, sau khi bị mất những đứa khác, sẽ nói vào tai ngươi rằng: Đất đai chật hẹp quá cho tôi; hãy sắm chỗ cho tôi, đặng tôi ở đây.
20O na keiki o kou pa ana, e olelo no lakou ma kou mau pepeiao, Ua pilikia au i keia wahi, E haawi mai ia'u i wahi e noho ai au.
21Chắc ngươi sẽ tự nói trong lòng rằng: Ai đã sanh sản cho ta những đứa nầy? Ta đã mất hết con cái; ta đã son sẻ, bị đày và lưu lạc? Vậy thì ai đã nuôi những đứa nầy? Nầy, ta đã ở một mình, những đứa nầy có bởi đâu?
21Alaila, e olelo iho no oe ma kou naau, Nawai i hoohanau mai i keia poe na'u? Nele au i ka'u mau keiki, a mehameha, He pio no. e kuewa aku ana; Nawai i hoonui mai i keia poe? Aia hoi, ua waiho wale ia au, mahea hoi lakou nei?
22Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta sẽ giá tay trên các nước, dựng cờ ta trong các dân. Bấy giờ chúng sẽ bồng các con trai ngươi, vác các con gái ngươi trên vai mà đến.
22Ke olelo mai nei o Iehova, ka Haku penei, Aia hoi, e hapai no wau i ko'u lima no ko na aina e, A e kau no wau i ko'u hae no na lahuikanaka; A e lawe mai no lakou i kau poe keikikane ma ka poli, A e kaikaiia kau mau kaikamahine, ma na poohiwi.
23Các vua sẽ làm cha nuôi ngươi, các hoàng hậu sẽ làm mụ vú ngươi; họ sẽ cúi mặt sát đất ở trước mặt ngươi; liếm bụi dưới chân ngươi; ngươi sẽ biết rằng ta là Đức Giê-hô-va, và những kẻ trông cậy ta sẽ chẳng hổ thẹn.
23A e lilo na'lii i poe makuakane hanai nou, A o na wahine alii a lakou, i poe makuwahine hanai nou; A e kulou ilalo i ka honua ko lakou maka imua ou, A e palu iho lakou i ka lepo o kou mau wawae; A e ike auanei oe, owau no Iehova; No ka mea, o ka poe e kali ia'u, aole lakou e hilahila.
24Vậy của cải bị người mạnh bạo cướp lấy, há ai giựt lại được sao? Người công bình bị bắt làm phu tù, há ai giải cứu được sao?
24E kailiia'ku anei ka waiwai pio, mai ka poe ikaika aku? E hoopakeleia'nei ke pio i lawe pono ia?
25Song Đức Giê-hô-va phán như vầy: Thật, những kẻ bị người mạnh bạo bắt lấy, sẽ được cứu thoát, mồi của người đáng sợ sẽ bị giựt lại. Vì ta sẽ chống cự kẻ đối địch ngươi, và chính ta sẽ giải cứu con cái ngươi.
25Aka, ke olelo mai nei o Iehova penei, E kailiia'ku no na pio o ka poe ikaika, A e hoopakeleia ka waiwai i pio, mai ka poe hooweliweli mai; No ka mea, e paio aku au i ka mea i paio pu me oe, A e hoola no wau i kau poe keiki.
26Ta sẽ làm cho kẻ hiếp đáp ngươi tự ăn thịt mình, say vì máu mình, như vì rượu mới; cả loài xác thịt sẽ biết ta, Đức Giê-hô-va, là Đấng Cứu ngươi, Đấng Chuộc ngươi, tức là Đấng Toàn năng của Gia-cốp!
26O ka poe hooluhi aku ia oe, E hanai aku au ia lakou i ko lakou io iho, A e ona auanei lakou i ko lakou koko iho, e like me ka waina hou; A e ike no na mea io a pau, owau no Iehova, O kou Ola, a me kou Hoolapanai, Ka Mea mana hoi o ka Iakoba.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.