Ê-sai 28
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Khốn thay cho mão triều thiên kiêu ngạo của những bợm rượu Eùp-ra-im, khốn thay cho hoa chóng tàn làm đồ trang sức đẹp nhất dân ấy, đóng tại nơi trũng màu mỡ của những người say rượu?
1A UWE ka lei hookiekie o na mea ona ma Eperaima, Ka pua mae wale o kona nani maikai, Ka mea ma ko poo o ka papu momona, O na mea i ona i ka waina!
2Nầy, từ nơi Chúa có một người mạnh và có quyền, giống như cơn bão mưa đá, như trận gió phá hại, như nước lớn vỡ bờ. Người sẽ lấy tay ném cả xuống đất.
2Aia hoi, ka mea ikaika, ka mea i hooikaikaia e ka Haku, Nana no e hoohiolo ia lakou ilalo i ka lepo me kona lima, E like me ka huahekili e haule ana, E like hoi me ka ino nui e make ai, A me ka wai kahe he nui e holo moku ana.
3Mão triều thiên kiêu ngạo của những bợm rượu Eùp-ra-im sẽ bị giày đạp dưới chân.
3Malalo o na wawae e hahiia'i Na lei hookiekie o na mea ona ma Eperaima.
4Cái hoa chóng tàn làm đồ trang sức đẹp nhất dân ấy, đóng tại nơi trũng màu mỡ, cũng sẽ giống như trái vả chín trước mùa hè: người ta thấy nó, vừa mới vào tay thì đã nuốt.
4Ka pua mae wale o kona nani maikai, Ka mea ma ke poo o ka papu momona, E like auanei ia me ka hua mua o ke kau, O ka mea nana aku a ike ia mea, Moni koke no ia i ka loaa ana i kona lima.
5Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trở nên mão triều thiên chói sáng và mão miện rực rỡ của dân sót Ngài;
5A hiki aku i kela la, E lilo no o Iehova i lei alii maikai, A i papale alii nani, no ka poe i koe o kona poe kanaka,
6sẽ trở nên thần công chánh cho kẻ ngồi trên tòa xét đoán, và sức mạnh cho những kẻ đuổi giặc nơi cửa thành.
6A i uhane hooponopono maloko o ka poe hooponopono, A i ikaika hoi iloko o ka poe i hoohuli i ke kaua ana i ka pukapa.
7Song những kẻ ấy cũng choáng váng vì rượu, xiêu tó vì các thứ rượu mạnh. Thầy tế lễ và đấng tiên tri đều choáng váng vì rượu mạnh, bị rượu nuốt đi, nhân các thứ rượu mạnh mà xoàng ba; xem sự hiện thấy thì cắt nghĩa sai, xử kiện thì vấp ngã;
7Ua kunewanewa lakou nei, no ka waina, Ua hikaka lakou no ka inu awaawa, Ua kunewanewa ke kahunapule, a me ke kaula no ka inu awaawa, Ua oki loa lakou i ka waina, Ua hikaka lakou no ka inu awaawa, Ua kunewanewa lakou ma ka hihio, Ua kulanalana ko lakou hooponopono ana.
8mửa ra ô uế đầy bàn tiệc, chẳng có chỗ nào sạch!
8No ka mea, ua paapu na papaaina a pau i ka luai, I ka paumaele hoi, aohe wahi kaawale.
9Vậy người sẽ dạy khôn cho ai, và khiến ai hiểu sự dạy dỗ mình? Có phải là dạy cho những trẻ con thôi bú, mới lìa khỏi vú chăng?
9Ia wai la ia e ao mai ai i ka ike? E hoike mai oia i ka naauao ia wai? I ka poe anei i ukuhiia i ka waiu? I ka poe anei i auaia i ka u?
10Vì, với họ phải giềng mối thêm giềng mối, giềng mối thêm giềng mối; hàng thêm hàng, hàng thêm hàng; một chút chỗ nầy, một chút chỗ kia!
10No ka mea, he rula maluna o ka rula, He rula maluna o ka rula; He loina maluna o ka loina, He loina maluna o ka loina; He uuku ma keia wahi. He uuku ma kela wahi.
11Vậy nên Đức Giê-hô-va sẽ dùng môi lạ lưỡi khác mà phán cùng dân nầy.
11He oiaio no me ka lehelehe namu a me ka olelo o ka malihini, E olelo mai ai oia i keia poe kanaka.
12Ngài đã phán cùng nó rằng: Đây là nơi yên nghỉ; hãy để kẻ mệt nhọc được yên nghỉ. Nầy là lúc mát mẻ cho các ngươi. Thế mà họ chẳng chịu nghe.
12Ia ia i olelo aku ai ia lakou, Eia ka maha e hoomaha oukou i ka poe maloeloe, Eia ka hooluolu; aole nae lakou i hoolohe.
13Lời Đức Giê-hô-va đối với họ sẽ là giềng mối thêm giềng mối, giềng mối thêm giềng mối; hàng thêm hàng, hàng thêm hàng; một chút chỗ nầy, một chút chỗ kia; hầu cho họ bước tới, thì ngã nhào và giập nát, sập bẫy, và bị bắt!
13Nolaila i hiki ai ka olelo a Iehova ia lakou, He rula maluna o ka rula, He rula maluna o ka rula; He loina maluna o ka loina, He loina maluna o ka loina; He uuku ma keia wahi, He uuku ma kela wahi; I hele ai lakou a hina ihope, a lukuia, I hoopaheleia hoi, a paa.
14Vậy nên, hỡi các ngươi là những người ngạo mạn, cai trị dân nầy ở Giê-ru-sa-lem, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.
14Nolaila, e hoolohe oukou i ka olelo a Iehova, e na kanaka hoowahawaha, Ka poe e noho alii ana maluna o keia poe kanaka ma Ierusalema.
15Vì các ngươi nói rằng: Chúng ta đã kết ước với sự chết, và giao ước cùng nơi âm phủ. Khi tai nạn hủy diệt trải qua, sẽ chẳng chạm đến ta đâu. Chúng ta lấy sự nói dối là nơi nương náu, sự gian lận làm nơi ẩn mình.
15No ka mea, ua olelo oukou, Ua hana makou i berita me ka make, Ua hookuikahi makou me ko ka po; A hiki mai ka hahau ana a mahuahua, Aole ia e hiki mai io makou nei; No ia mea, ua hoolilo makou i ka wahahee i puuhonua no makou, Ua huna makou ia makou iho iloko o ka hoopunipuni.
16Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta đặt tại Si-ôn một hòn đá để làm nền, là đá đã thử nghiệm, là đá góc quí báu, là nền bền vững: ai tin sẽ chẳng gấp rúc.
16No ia mea, peneia ka olelo ana mai a ka Haku, a Iehova, Aia hoi, ke hoonoho nei au ma Ziona, He pohaku, he pohaku i hoaoia, He pohaku kihi, ua maikai, He poliaku kumu i hoonoho paa ia: O ka mea i hilinai aku ia ia, aole ia e hee.
17Ta sẽ lấy sự chánh trực làm dây đo, sự công bình làm chuẩn mực; mưa đá sẽ hủy diệt nơi ẩn náu bằng sự nói dối, nước sẽ ngập chỗ nương náu.
17E hoopai pololei aku au ma ke kaula, A e hooponopono aku au ma ka hoailona kupono; A na ka huahekili e hoopau aku i ka puuhonua wahahee, A e halanaia i ka wai, kahi e pee aku ai.
18Bấy giờ ước các người kết với sự chết sẽ phế đi, ước các ngươi giao cùng nơi âm phủ sẽ không đứng được. Khi tai nạn hủy diệt trải qua, các ngươi đều bị giày đạp.
18E hoopauia auanei ko oukou berita me ka make, Aole e kupaa ka oukou kuikahi ana me ka po; I ka wa e hiki mai ai ka hahau ana a mahuahua, E hahiia oukou ilalo e ia.
19Mỗi lần tai nạn trải qua, sẽ bắt lấy các ngươi, vì nó trải qua mọi buổi sớm mai, ngày và đêm; chỉ có sự kính sợ làm cho các ngươi hiểu biết lời dạy ấy.
19I ka wa e puka mai ai ia, e hoopaa mai no ia ia oukou; He oiaio no e hiki mai ia i kela kakahiaka i keia kakahiaka, A i ke ao no hoi a me ka po; A e lilo no ka lohe wale i mea e makau ai.
20Giường ngắn quá không thể duỗi mình; mền hẹp quá không thể quấn mình.
20No ka mea, ua pokole kahi moe, aole hiki ke hoomoe loa malaila; Ua ololi kahi kapa moe, aole hiki ke uhi ia ia iho.
21Vì Đức Giê-hô-va sẽ dấy lên như ở núi Phê-ra-xim; Ngài nổi giận như tại trũng Ga-ba-ôn, đặng làm việc Ngài, là việc khác thường, và làm công Ngài, là công lạ lùng.
21No ka mea, e like me ia ma ka mauna o Perazima, Pela no e ala mai ai o Iehova; E like me ia ma ke kahawai o Gibeona, Pela no ia e huhu mai ai, I hana'i oia i kana hana, i kana hana kupanaha hoi; I hoopaa hoi oia i kana hana, kana hana ano e.
22Vậy bây giờ, đừng khinh lờn nữa, e dây tói càng buộc chặt các ngươi chăng; vì ta có nghe từ nơi Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, lịnh truyền hủy diệt cả đất.
22Ano hoi, mai hoowahawaha oukou, O hoopaa loa ia ko oukou mau kupee; No ka mea, ua lohe au i ka hoopau ana, i hooholoia, Na ka Haku na Iehova o na kaua, i ka aina a pau.
23Hãy lắng tai, nghe tiếng ta; hãy để ý, nghe lời ta!
23E haliu mai oukou, a e hoolohe i ko'u leo, E haliu mai oukou, a e hoolohe i ka'u olelo ana.
24Kẻ cày để gieo, há hằng ngày cứ cày luôn sao? Há chẳng vỡ đất và bừa hay sao?
24O ka mea hana me ka oopalau, E hana anei ia i na la a pau e kanu ai? E wawahi ana, a e kuikui ana ia i puupuu lepo o kona aina?
25Khi đã bộng bằng mặt đất rồi, há chẳng vải tiểu hồi, gieo đại hồi ư? Há chẳng tỉa lúa mì nơi rãnh, mạch nha nơi đã cắm dấu, và đại mạch trên bờ ư?
25A hana aku oia i ka lepo a maniania, Aole anei ia i lulu iho i ke kumino eleele, A kanu no hoi i ke kumino? A lulu i ka hua palaoa maikai, A me ka bale, a me ka palaoa eleele, Ma kona wahi iho?
26Aáy là Đức Chúa Trời dạy và bảo nó cách phải làm.
26Ao mai no kona Akua ia ia ma ka hooponopono, A hoike mai no hoi ia ia.
27Vì người ta chẳng dùng trái lăn mà nghiền tiểu hồi, cũng chẳng cho bánh-xe lăn trên đại hồi; nhưng tiểu hồi thì đập bằng cái que, đại hồi thì đập bằng cái lẻ.
27Aole i kuiia ke kumino eleele i ka mea kui, Aole i hookaaia ka mea kaa maluna o ke kumino; Aka, ua kuiia ke kumino eleele i ka laau, A me ke kumino hoi i ka laau kui.
28Người ta vẫn xay lúa mì; nhưng chẳng đập luôn, dầu cho hột thóc qua dưới bánh xe hoặc chân ngựa, song không giập nát.
28Kuiia no ka palaoa a wali, No ka mea, aole makemake ia i ka hahi loihi ana, Aole hoi e hookaa aku i ke kaa o kona kaa, Aole hoi e hahi aku na lio ona ia mea.
29Điều đó cũng ra bởi Đức Giê-hô-va vạn quân, mưu Ngài lạ lùng, sự khôn ngoan Ngài tốt lành.
29I puka mai no keia mai o Iehova o na kaua mai, Ka mea kupanaha ma ka noonoo ana, A nui loa no hoi kona ike.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.