Ê-sai 10
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Khốn thay cho những kẻ lập luật không công bình, cho những kẻ chép lời trái lẽ,
1Amtang kaminawk ih hmuen to lomh pae moe, kamtang kai ih kaminawk toenghaih lak pae ving hanah, lamhmainawk to pacaekthlaek moe, ampa tawn ai kaminawk ih hmuenmae to lomh hanah, katoeng ai patukhaih daan sah kaminawk hoi pacaekthlaek hanah lok takroek kaminawk loe khosak bing!
2cất mất sự công bình khỏi kẻ nghèo, cướp lẽ phải của kẻ khốn khó trong dân ta, lấy kẻ góa bụa làm miếng mồi, kẻ mồ côi làm của cướp!
no verse 2 in this text
3Tới ngày thăm phạt, khi họa hoạn từ xa mà đến, các ngươi sẽ làm thể nào? Các ngươi trốn đến cùng ai để cầu cứu, và để sự vinh hiển mình ở nơi nào?
3Thuitaekhaih ni hoi kangthla parai ahmuen hoiah angzo han koi amrohaih phak naah timaw na sak o han? Abomhaih hnik hanah mi khaeah maw na caeh o han? Nangmacae ih hmuenmae naa ah maw na suek o han?
4Chúng nó chỉ có khom lưng dưới những kẻ phu tù, và ngã dưới những kẻ bị giết! Dầu vậy, cơn giận của Chúa chẳng lánh khỏi, nhưng tay Ngài còn giơ ra.
4Kai mah abomh ai nahaeloe nihcae loe misong ah kaom kaminawk tlim ah om o ueloe, hum ih kaminawk salakah amtimh o tih. To tiah oh pacoengah doeh, anih palungphuihaih to dii ai, a ban phok toengtoeng vop.
5Hỡi A-si-ri, là cái roi của sự thạnh nộ ta! Cái gậy cầm trong tay nó là sự tức giận của ta vậy!
5Ka palungphuihaih cunghet, ka palungphuihaih thingboeng, Assyria loe khosak bing!
6Ta sẽ sai nó nghịch cùng một nước chẳng tin kính; khiến nó đi đánh một dân mà ta nổi giận, để cướp lấy, bóc lột, và giày đạp chúng nó như bùn ngoài đường.
6Sithaw panoek ai kaminawk to tuk hanah, anih to ka patoeh moe, kai palungphuisak kaminawk to tuk pacoengah, tangnong baktiah loklam ah cawh hanah, anih to ka patoeh han.
7Nhưng nó không có ý thế, trong lòng nó chẳng nghĩ như vậy: lại thích phá hại, và hủy diệt nhiều dân.
7Toe hae loe anih mah sak atim ih hmuen na ai, anih palung thungah kaom hmuen doeh na ai ni; anih mah sak atimhaih loe kanoih parai prae kaminawk to phraek moe, amrosak han ih hae ni.
8Vì nó nói rằng: Các quan trưởng của ta há chẳng phải đều là vua sao?
8Assyria siangpahrang mah, misatuh angraengnawk boih loe kai ih kami ah na ai maw oh o?
9Há lại Ca-nô chẳng như Cạt-kê-mít, Ha-mát chẳng như Aït-bát, Sa-ma-ri chẳng như Đa-mách sao?
9Kalno vangpui, Karkhemish vangpui, Hammath vangpui, Arpad vangpui, Samaria vangpui hoi Damaska vangpui loe nihcae mah lak o boeh na ai maw? tiah thuih.
10Như tay ta đã tới đến các nước của thần tượng, tượng chạm của họ lại hơn của Giê-ru-sa-lem và Sa-ma-ri nữa,
10Jerusalem hoi Samaria vangpui ih krangnawk pongah kahoih kue, krang bok kaminawk ih prae to ka lomh pae boeh moe,
11thì ta há chẳng sẽ làm cho Giê-ru-sa-lem và thần tượng nó cũng như ta đã làm cho Sa-ma-ri và thần tượng nó sao?
11Samaria hoi anih ih krangnawk nuiah ka sak ih hmuen baktih toengah, Jerusalem hoi anih ih krangnawk nuiah doeh ka sah mak ai maw? tiah thuih.
12Nên sẽ xảy ra khi Chúa đã làm xong cả việc trên núi Si-ôn và tại Giê-ru-sa-lem, thì chính ta sẽ hành phạt những bông trái bởi lòng kiêu ngạo và sự vinh hiển của con mắt ngó cao của vua A-si-ri.
12Angraeng mah sak atim ih hmuen boih Zion mae hoi Jerusalem nuiah sah tih, anih loe poeksang moe, amoekhaih hoiah mik padai, Assyria siangpahrang to thuitaek tih.
13Vì người nói rằng: Ta đã làm điều đó bởi sức mạnh của tay ta, bởi sự khôn ngoan ta, vì ta là thông minh. Ta đã dời đổi giới hạn các dân; đã cướp của quí họ, như một người mạnh đã làm cho những kẻ đang ngồi phải xuống.
13Anih mah, Hae hmuennawk loe ka ban thacakhaih hoi palunghahaih hoiah ni ka sak; kai loe palunghahaih hoiah acung; prae kaminawk ih ramri to ka tahruet pae moe, thacak kami mah nihcae ih siangpahrang pazawk pae baktih toengah, nihcae ih hmuenmae to ka lomh pae boeh:
14Tay ta đã tìm được của cải các dân như bắt ở chim, vơ vét cả đất như lượm trứng đã bỏ; chẳng có ai đập cánh, mở mỏ, hay là kêu hót!
14kami mah tavaa tabu thung ih tadui to lak baktih toengah, prae kaminawk boih ih angraenghaih to ka lak boeh; mi doeh pakhraeh bop ai, hangh hanah pakha ang o ai.
15Cái rìu há lại khoe mình cùng người cầm rìu ư? Cái cưa há lại dấy lên nghịch cùng kẻ cầm cưa ư? Thế cũng như cái roi vận động kẻ giơ roi, cái gậy nâng đỡ cánh tay cầm gậy!
15Caka mah caka patohkung to laisaep thuih vai maw, to tih ai boeh loe thing aahhaih sarang mah patohkung nuiah amoek thuih vai maw? Thingboeng mah patohkung to atoengh tahang vai maw, kami mah na ai maw thingboeng to atoengh tahang? tiah a naa.
16Vậy nên, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, sẽ làm cho những người mập mạnh của nó trở nên gầy mòn, và dưới sự vinh hiển nó sẽ đốt cháy lên như lửa thiêu đốt.
16To pongah Angraeng, misatuh kaminawk ih Angraeng mah, kathawk hruk misatuh kaminawk khaeah nganzaek nathaih to patoeh ueloe, lensawkhaih hoiah ohhaih tlim ah kangqong hmai baktiah hmai mah kangh tih.
17Sự sáng của Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên lửa, Đấng Thánh nó sẽ trở nên ngọn đèn, chỉ trong một ngày, đốt tiêu gai gốc và chà chuôm nó;
17Israel aanghaih loe kangqong hmai ah om tih; anih ih Ciimcai Sithaw loe hmaipalai ah om tih; anih ih kapring phroh hoi soekhring loe nito thung hmai mah kangh ueloe, amro boih tih.
18lại thiêu hủy vinh hoa của rừng cây và ruộng màu mỡ nó, cả linh hồn và thân thể; như kẻ cầm cờ xí ngất đi vậy.
18Taw thung ih hmuennawk hoi long kahoih lawk hmuennawk boih, a hinghaih hoi a takpum doeh nawnto amro boih tih; nihcae loe nganna kaminawk baktiah thazok o tih.
19Bấy giờ những cây trên rừng nó còn sót lại chẳng là bao, một đứa bé con có thể chép lấy được.
19Anih taw thung ih kanghmat thingnawk doeh, nawkta mah cazin lak thai koiah zetta ni om sut tih boeh, tiah thuih.
20Trong ngày đó, dân sót của Y-sơ-ra-ên, và người thoát nạn của nhà Gia-cốp, sẽ không cậy kẻ đánh mình nữa; nhưng thật lòng cậy Đức Giê-hô-va, là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.
20To na niah kanghmat Israel kami hoi kaloih anghmat Jakob imthung takohnawk loe, nihcae hum kami nuiah amha o mak ai boeh, Ciimcai Israel Sithaw nuiah ni amha o tih boeh.
21Một số dân sót, tức là dân sót của Gia-cốp, sẽ trở lại cùng Đức Chúa Trời quyền năng.
21Anghmat kami, kanghmat Jakob acaeng loe, Thacak Sithaw khaeah amlaem o let tih.
22Hỡi Y-sơ-ra-ên, dầu dân ngươi như cát biển, chỉ một phần sót lại sẽ trở lại. Sự hủy diệt đã định, bởi vì sự công bình tràn khắp.
22Israelnawk loe tuipui taeng ih savuet zetto pop o e, anghmat kaminawk ni amlaem o let tih; nihcae mah tongh o han koi amrohaih loe katoeng lokcaekhaih ah ni om tih.
23Vì Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, đã định làm trọn sự hủy diệt trong khắp đất.
23Misatuh kaminawk ih Angraeng mah prae boih nuiah suekcoek ih amrohaih to akoepsak tih.
24Vậy có lời Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, phán như vầy: Hỡi dân ta, ngươi ở tại Si-ôn, chớ sợ người A-si-ri, dầu họ lấy roi đánh ngươi và giá gậy trên ngươi theo cách người Ê-díp-tô.
24To pongah misatuh kaminawk ih Angraeng Sithaw mah, Izip kaminawk mah sak ih baktih toengah, Zion ah kaom kai ih kaminawk to Assyria kaminawk mah thingboeng hoiah bop o tih, nihcae mah thingboeng hoiah na pahuem o tih; toe nihcae to zii o hmah.
25Vì còn ít lâu nữa, ta sẽ hết giận các ngươi; cơn thạnh nộ ta trở nghịch cùng dân ấy đặng hủy diệt nó.
25Palung ka phuihaih loe nihcae amrohaih ah oh baktih toengah, nangcae nuiah palung ka phuihaih loe nawnetta thungah dii tih boeh.
26Bấy giờ Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ giá roi trên họ, như Ngài đã đánh giết người Ma-đi-an nơi vầng đá Hô-rếp; lại sẽ giơ gậy trên biển, sẽ giơ lên như đã làm trong xứ Ê-díp-tô.
26Angraeng Sithaw mah Oreb lungsong taengah, Median kaminawk danpaek baktih toengah, Assyria kaminawk to thingboeng hoiah bop tih; Egypt prae ah tuipui to boh moe, tui koihsak baktih toengah a thacakhaih to amtuengsak tih.
27Trong ngày đó, gánh nặng nó sẽ cất khỏi vai ngươi, ách nó cất khỏi cổ ngươi, ách sẽ bị gãy vì sự béo mập.
27To na niah loe na palaeng ih hmuen kazit hoi na tahnong ih hmuen phawhhaih hnam to azuk pae ving tih boeh; situi to bawh boeh pongah, hmuen phawhhaih hnam to apet tih boeh.
28Nó đi đến A-giát: trải qua Mi-gơ-rôn, để đồ đạc tại Mích-ma.
28Misanawk loe Aiath vangpui ah phak o moe, Migron vangpui ah caeh o poe; Mikmash vangpui ah hmuenmae to amtik o:
29Chúng nó vuợt qua ải, đóng trại tại Ghê-ba; Ra-ma run sợ; Ghi-bê-a của Sau-lơ chạy trốn.
29mae salak ih loklam hoiah a caeh o moe, Geba ah anghak o; Ramah loe tasoeh moe, Saul ohhaih Gibeah loe cawnh ving.
30Hỡi con gái Ga-lim, hãy cất tiếng kêu to! Hỡi người La-ít, hãy ghé tai mà nghe! Thương thay cho người A-na-tốt!
30Aw Gallim canu, hang ah! Aw laishiah, tahngai ah! Anathoth loe tahmen thoh parai!
31Mát-mê-na trốn tránh; dân cư Ghê-bim tìm chỗ núp.
31Madmenah loe cawnh ving boeh; Gebim ih kaminawk doeh cawnh o moe, loih o boeh.
32Chính ngày đó chúng nó sẽ đóng tại Nóp, và vung tay nghịch cùng núi của con gái Si-ôn, nghịch cùng đồi của Giê-ru-sa-lem!
32To na niah loe Nob vangpui ah anghak o tih; Jerusalem ih mae, Zion canu ih mae ah a ban to takhoek tih.
33Nầy, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân, sẽ dùng oai mạnh đốn các nhánh cây; những kẻ cao lớn đều bị chặt, những kẻ kiêu ngạo bị hạ xuống.
33Khenah, Angraeng, misatuh kaminawk ih Angraeng mah zitthok thing tanghang to pakhruh ving tih; anih mah kasang parai thing tanghangnawk doeh pakhruh ueloe, kasang parai tanghangnawk doeh kahnaem ah pakhru tih.
34Ngài dùng sắt chặt những bụi rậm trên rừng, và Li-ban bị ngã xuống bởi người mạnh sức.
34Taw thung ih thingnawk to caka hoiah pakhru tih, Babylon loe Thacak Kami ih ban hoiah amtim tih.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.