Ê-sai
Chapter 45
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Đức Giê-hô-va phán thể nầy cùng Si-ru, là người xức dầu của Ngài, ta đã cầm lấy tay hữu người, đặng hàng phục các nước trước mặt người, và ta sẽ tháo dây lưng các vua; đặng mỡ các cửa thành trước mặt người, cấm không được đóng lại:
1Angmah situi to bawh moe, a bantang ban ka patawn ih, Cyrus khaeah, prae kaminawk boih a hmaa ah akun hanah, Angraeng mah, siangpahrangnawk ih khukbuen to khring pae moe, khongkhanawk to khah han ai ah, ahmaa ah khongkha hnetto paong pae ah, tiah thuih;
2Ta sẽ đi trước mặt ngươi, ban bằng các đường gập ghềnh; phá vỡ các cửa bằng đồng, bẻ gãy then gài bằng sắt;
2na hmaa ah ka caeh moe, kangkoih ahmuennawk to ka toengsak han; sumkamling hoiah sak ih khongkhanawk to ka phraek moe, takraenghaih sumboengnawk to ka khaeh pae han.
3ta sẽ ban vật báu chứa trong nơi tối, của cải chứa trong nơi kín cho ngươi, để ngươi biết rằng chính ta, là Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã lấy tên ngươi gọi ngươi.
3Kai loe Angraeng, Israel Sithaw, ahmin hoiah nangcae kawkkung ah ka oh, tiah na panoek o thai hanah, kaving thung ih hmuennawk to kang paek moe, panoek ai ih ahmuen ah kanghawk angraenghaih doeh kang paek o han.
4Vì cớ Gia-cốp, tôi tớ ta, và Y-sơ-ra-ên, kẻ lựa chọn của ta, nên ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi, và đặt tên thêm cho ngươi dầu ngươi không biết ta.
4Cyrus, ka tamna Jakob hoi ka qoih ih Israel pongah ni, nang to ahmin hoiah kang kawk; toe kai hae nang panoek ai, toe na hmin hoihaih to kang paek.
5Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác, ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác nữa. Dầu ngươi không biết ta, ta sẽ thắt lưng ngươi,
5Kai loe Angraeng ah ka oh, kalah roe om ai, kai ai ah loe Sithaw om ai; Kai hae nang panoek ai, toe na kaeng to kacakah kang zaeng pae.
6hầu cho từ phía mặt trời mọc đến phía mặt trời lặn họ được biết rằng không có Đức Chúa Trời nào khác ngoài ta. Ta là Đức Giê-hô-va, không có đấng nào khác.
6Ni tacawthaih hoi niduem khoek to, kaminawk mah kai ai ah loe kalah Sithaw roe om ai, tiah panoek o tih. Kai loe Angraeng ah ka oh, kai pacoengah kalah mi doeh om ai boeh.
7Aáy chính ta là Đấng gây nên sự sáng và dựng nên sự tối tăm, làm ra sự bình an và dựng nên sự tai vạ; chính ta, là Đức Giê-hô-va, là mọi sự đó.
7Aanghaih to ka ohsak moe, vinghaih doeh ka sak; angdaehhaih ka sak moe, amrohaih doeh ka sak; hae hmuennawk boih loe Kai, Angraeng mah ni ka sak.
8Hỡi các từng trời, hãy sa móc xuống từ trên cao, vòng khung hãy đổ sự công bình xuống! Đất hãy tự nẻ ra, đặng sanh sự cứu rỗi, sự công bình mọc lên cả một lần! Ta, là Đức Giê-hô-va, đã dựng nên sự đó.
8Nangcae vannawk, ranui bang hoiah kho angzo oh; toenghaih loe van bang hoiah kho baktiah angzosak nasoe; long hae am-ong nasoe loe, pahlonghaih thingthai to athai nasoe; toenghaih loe nawnto tacawt tahang nasoe; Kai, Angraeng mah to hmuen to ka sak boeh.
9Khốn thay cho kẻ cãi lại với Đấng tạo nên mình! một bình trong các bình bằng đất! Đất sét há dễ nói cùng thợ gốm là người nhồi mình rằng: Ngươi làm chi? hoặc việc ngươi làm ra há nói rằng: Nó không có tay?
9Angmah Sahkung hoi angzoeh kami loe khosak bing! Anih loe long ah kaom kakoi long laom baktiah ni oh. Amlai long mah laom sahkung khaeah, Timaw na sak? tiah naa thai tih maw? To tih ai boeh loe kai sahkung loe ban tawn ai, tiah thui thai tih maw?
10Khốn thay cho kẻ nói cùng cha mình rằng: Cha sinh ra gì? và cùng đàn bà rằng: Ngươi đẻ gì?
10Nawktanawk mah ampa hanah, Kawbaktih hmuen maw na sak? To tih ai boeh loe amno hanah, Kawbaktih hmuen maw na tapen? tiah thui kami loe khosak bing!
11Đức Giê-hô-va, Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, tức là Đấng đã làm ra Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Các ngươi hãy hỏi ta về những sự sẽ đến; hãy bảo ta về sự các con trai ta, và về việc làm bởi tay ta.
11Angraeng, nihcae Sahkung, Ciimcai Israel Sithaw mah hae tiah thuih; angzo han koi hmuennawk, ka capanawk kawng hoi ban hoi ka sak ih hmuennawk kawng pongah, nangcae mah lok nang dueng o han om ai.
12Aáy chính ta đã làm ra đất, dựng nên loài người ở trên đất; chính ta, tức là tay ta, đã giương ra các từng trời, và đã truyền bảo các cơ binh nó.
12Long loe kai mah ni ka sak, a nuiah kaom kami doeh ka sak; Kaimah ih ban hoi roe ah vannawk to ka payuengh moe, cakaehnawk to lok ka paek boih.
13Aáy chính ta đã dấy người lên trong sự công bình, và sẽ ban bằng mọi đường lối người. Người sẽ lập lại thành ta, và thả kẻ bị đày của ta, không cần giá chuộc, cũng không cần phần thưởng, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
13Toenghaih hoiah anih to ka pathawk tahang, anih caehhaih loklamnawk to ka hnuksak boih han; anih mah ka vangpui to sah ueloe, atho paek ai, tangqum paekhaih doeh om ai ah, naeh ih kaminawk to loisak tih, tiah misatuh kaminawk ih Angraeng mah thuih.
14Đức Giê-hô-va phán như vầy: Lời lãi nước Ê-díp-tô, của cải nước Ê-thi-ô-bi, cùng người Sa-bê, người vóc dạng cao lớn, đều sẽ qua cùng ngươi và thuộc về ngươi. Họ sẽ bước theo ngươi; mang xiềng mà đến, quị lụy trước mặt ngươi và nài xin rằng: Thật Đức Chúa Trời ở giữa ngươi; ngoài Ngài chẳng có ai khác, không có Đức Chúa Trời nào nữa.
14Angraeng mah hae tiah thuih; Izip prae ah hak o ih hmuenmaenawk, Ethiopia kaminawk hoi somsang kahoih kaminawk mah hmuenmae zawhhaih hoiah hak o ih hmuennawk to nangcae khaeah pha tih, to hmuennawk loe nangcae ih hmuen ah om tih; nihcae loe qui hoi pathlet pacoengah, nangcae hnukah bang o tih; nangcae hmaa ah tabok o ueloe, nangcae khaeah, Sithaw loe oh tangtang; to Sithaw ai ah loe kalah Sithaw roe om ai, tiah nangcae khaeah tahmenhaih hni o tih.
15Hỡi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Cứu Chúa, Ngài thật là Đức Chúa Trời ẩn mình!
15Aw Israel Sithaw hoi pahlongkung, nang loe kamtueng ah kaom ai Sithaw ah na oh.
16Hết thảy chúng nó đều bị xấu hổ nhuốc nhơ; những thợ làm hình tượng cùng nhau trở về, rất là mắc cỡ.
16Krang sah kaminawk loe palungboeng o ueloe, azat o boih tih; azathaih hoiah ahmin sae o tih.
17Duy Y-sơ-ra-ên đã được Đức Giê-hô-va cứu cho, được sự cứu đời đời, đến đời đời vô cùng các ngươi không còn mang hổ mang nhơ!
17Toe Israel loe Angraeng mah pahlong tih, dungzan pahlonghaih to hnu tih; azathaih tong mak ai, dungzan khoek to azathaih hoi palungboenghaih om mak ai boeh.
18Vì Đức Giê-hô-va, là Đấng đã dựng nên các từng trời, tức là Đức Chúa Trời đã tạo thành đất và làm ra nó, đã lập nó cho bền vững, chẳng phải dựng nên là trống không, bèn đã làm nên để dân ở, phán như vầy: Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác!
18Vannawk sahkung, Angraeng mah hae tiah thuih; Long loe Sithaw angmah sak moe, a caksak; azom pui ah oh hanah long hae sah ai; kami oh han ih ni a sak; Kai loe Angraeng ni, Angraeng kalah mi doeh om ai.
19Ta chẳng hề nói cách kín giấu, chẳng nói trong nơi của đất tối tăm. Ta chẳng từng phán cùng dòng dõi Gia-cốp rằng: Các ngươi tìm ta là vô ích. Ta, là Đức Giê-hô-va, phán sự công bình, truyền điều chân thật.
19Kai loe tamquta hoi lok ka thui ai moe, long vinghaih ahmuen hoiah doeh lok ka thui ai; Jakob ih caanawk khaeah, Atho om ai ah kai hae pakrong oh, tiah ka thui ai; Kai, Angraeng loe toenghaih to ka thuih moe, loktang lok ni ka thuih.
20Hỡi dân thoát nạn của các nước, hãy nhóm lại và đến, thảy cùng nhau lại gần! Những kẻ khiên gỗ của tượng chạm mình, cầu nguyện với thần không cứu được, thật là đồ vô thức.
20Angzoh oh loe, maeto ah amkhueng oh; misa loih prae kaminawk boih, nawnto amkhueng oh; thing hoiah krang sah kaminawk, pahlong thai ai sithawnawk khaeah lawkthui kami loe, panoekhaih tidoeh tawn ai kami ah ni oh o.
21Vậy hãy truyền rao; hãy bảo chúng nó đến gần, và nghị luận cùng nhau! Từ đời xưa ai đã rao ra sự nầy? ai đã tỏ ra từ lúc thượng cổ? Há chẳng phải ta, là Đức Giê-hô-va, sao? Ngoài ta chẳng có Đức Chúa Trời nào khác! chẳng có Đức Chúa Trời nào khác là công bình và là Cứu Chúa ngoài ta.
21Na tok sakhaih to angzo o haih ah loe thui oh; ue, kaminawk to kawk oh, lok nawnto thui o nasoe; canghnii hoiah hae hmuen kawng thui kami loe mi aa? To nathuem hoi kamtong mi mah maw thuih? Kai, Angraeng mah na ai maw ka thuih? Kai ai ah loe Sithaw kalah om ai; Kai loe katoeng Sithaw, pahlongkung ah ka oh; kai ai ah loe kalah Sithaw roe om ai.
22Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác.
22Kai loe Sithaw ah ka oh, kai ai ah loe kalah Sithaw om ai boeh pongah, long boenghaih ah kaom kaminawk, kai hae na khen o ah loe pahlong ah om oh.
23Ta đã chỉ mình mà thề, lời công bình ra từ miệng ta sẽ chẳng hề trở lại: mọi đầu gối sẽ quì trước mặt ta, mọi lưỡi sẽ chỉ ta ma thề.
23Kami boih ka hmaa ah khokkhu cangkrawn o ueloe, palainawk boih mah lokkamhaih to sah o tih, tiah kaimah hoi kaimah lokkamhaih to ka sak boeh; ka pakha thung hoi tacawt toenghaih lok loe akoep ai ah amlaem let mak ai.
24Người ta sẽ luận về ta rằng: sự công bình và sức mạnh chỉ ở trong Đức Giê-hô-va, người ta sẽ đến cùng Ngài. Mọi kẻ giận Ngài sẽ bị hổ thẹn.
24Toenghaih hoi thacakhaih loe Angraeng ah ni oh, tiah kami boih mah thui o tih; Angraeng to misa ah suem kaminawk to anih khaeah angzo o ueloe, azathaih hoiah om o tih.
25Cả dòng dõi Y-sơ-ra-ên sẽ được xưng công bình trong Đức Giê-hô-va, và nhờ Ngài mà được vinh hiển.
25Toe Israel caanawk boih loe Angraeng pongah toenghaih to hnu o ueloe, lensawkhaih hoiah om o tih.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.