Đa 2
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Trong năm thứ hai đời vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua thấy chiêm bao, thì trong lòng bối rối và mất giấc ngủ.
1Nebuchadnezzar loe siangpahrang ah ohhaih saning hnetto naah, amang to sak, zithaih palung a tawnh pongah, iip thai ai.
2Vậy vua truyền đòi các đồng bóng, thuật sĩ, thầy bói, và người Canh-đê để cắt nghĩa chiêm bao cho vua. Họ bèn đến chầu trước mặt vua.
2Siangpahrang ih amang thuih han ih, miklet kop kaminawk, banpadae khet kop kaminawk, lungh aah kop kaminawk hoi Khaldian ih palungha kaminawk to kawk hanah lok a paek.
3Vua nói cùng họ rằng: Ta đã thấy một chiêm bao; và lòng ta bối rối, muốn biết chiêm bao đó.
3Siangpahrang mah nihcae khaeah, Amang maeto ka sak, amang to ka panoek ai pongah zithaih palungthin ka tawnh, tiah a naa.
4Những người Canh-đê nói cùng vua bằng tiếng A-ram rằng: Tâu vua, chúc vua sống đời đời! Xin thuật chiêm bao cho những kẻ tôi tớ vua, và chúng tôi sẽ giải nghĩa.
4To naah cakaeh khet kop kaminawk mah siangpahrang to Syria lok hoiah, Aw siangpahrang na hinglung sawk nasoe! Na tamnanawk khaeah amang to thui ah, kaicae mah kang leh pae o han hmang, tiah a naa o.
5Vua trả lời cho những người Canh-đê rằng: Sự ấy đã ra khỏi ta. Nếu các ngươi không nói cho ta biết chiêm bao đó thể nào và lời giải nó làm sao, thì các ngươi sẽ bị phân thây, nhà các ngươi sẽ trở nên đống phân.
5Siangpahrang mah cakaeh khet kop kaminawk khaeah, Hae tiah lok ka takroek boeh; ka mang hae nang panoek o sak ai moe, nang leh pae o thai ai nahaeloe, aboengh aboengh ah kang takroek o moe, na imnawk doeh angpop sut maiphu baktiah ka sak han.
6Nhưng nếu các ngươi tỏ chiêm bao và lời giải nó cho ta, thì các ngươi sẽ được lễ vật, phần thưởng, và vinh hiển lớn từ nơi ta. Các ngươi hãy tỏ cho ta chiêm bao đó và lời giải nó thế nào.
6Toe ka mang hae nang panoek o sak moe, nang leh pae o thaih nahaeloe, kai khae hoi hnuk han koi tangqum hoi athonawk to na hnuk o pacoengah, kalen parai pakoehhaih to na hnu o tih; to pongah ka mang hoi a thuih koehhaih to na thui oh, tiah a naa.
7Họ lại tâu lần thứ hai rằng: Xin vua kể chiêm bao cho những kẻ tôi tớ vua, và chúng tôi sẽ cắt nghĩa.
7To naah nihcae mah, Siangpahrang mah a tamnanawk khaeah amang to thui nasoe, kaicae mah amang kang leh pae o han, tiah a naa o let.
8Vua rằng: Ta biết chắc các ngươi tìm cách để hoãn thì giờ, vì các ngươi thấy sự ấy đã ra khỏi ta.
8To naah siangpahrang mah, Lok takroekhaih ka sak boeh, tiah na panoek o pongah, atue akra han ih ni na sak o, tito ka panoek.
9Nhưng, nếu các ngươi không tỏ cho ta biết chiêm bao, thì cũng chỉ có một luật cho các ngươi; vì các ngươi đã điều đình với nhau đem những lời giả dối bậy bạ nói cùng ta, cho đến ngày giờ sẽ thay đổi. Vậy, hãy nói chiêm bao cho ta, và ta sẽ biết rằng các ngươi có thể giải nghĩa được.
9Amang nang thui o ai nahaeloe, nangcae han lok takroekhaih maeto khue ni oh boeh; atue akra hanah alinghaih hoi amsawnlok thuih han ih ni na poek o boeh; to pongah amang to na thui oh, to naah ni amang nang leh pae o thaih, tiah ka panoek tih, tiah a naa.
10Những người Canh-đê tâu lại cùng vua rằng: Chẳng có người nào trên đất nầy có thể tỏ ra việc của vua; vì chẳng có vua nào, chúa nào, người cai trị nào đem việc như thế hỏi đồng bóng, thuật sĩ, hay người Canh-đê nào.
10Cakaeh khet kop kaminawk mah siangpahrang khaeah, Siangpahrang mah hnuk ih hmuennawk kathui thaih kami long nuiah mi doeh om ai; kawbaktih siangpahrang, angraeng hoi ukkung mah doeh to baktih hmuennawk to miklet kop kami, cakaeh khet kop kami hoi lungh aah kop kaminawk khaeah dueng vai ai.
11Vì sự vua đòi là hiếm có, và không ai có thể tỏ cho vua được, chỉ có các vì thần không ở với loài xác thịt.
11Siangpahrang mah dueng ih lok loe karai parai hmuen ah oh, taksa ah kaom ai sithawnawk khue mah ai ah loe, mi mah doeh siangpahrang hma ah thui thai mak ai, tiah a naa o.
12Vậy nên vua phát tức mình và giận dữ lắm, bèn truyền mạng lịnh giết chết hết những bác sĩ của Ba-by-lôn.
12To lok to anih mah thaih naah siangpahrang loe paroeai palungphui moe, Babylon prae thungah kaom palungha kaminawk hum boih hanah lok a paek.
13Vậy mạng lịnh đó đã truyền ra; người ta hầu đem giết hết thảy những bác sĩ, lại tìm Đa-ni-ên cùng đồng bạn người để giết.
13Palungha kaminawk hum hanah lok takroek boeh pongah, nihcae mah Daniel hoi anih ih ampuinawk doeh hum hanah pakrong o.
14Bấy giờ Đa-ni-ên lấy sự khôn ngoan trí thức mà nói với A-ri-ốc, quan thị vệ của vua, đã đi ra đặng giết những bác sĩ của Ba-by-lôn.
14Babylon prae thung ih palungha kaminawk hum han kacaeh, siangpahrang toepkung misatuh angraeng Ariok to Daniel mah palunghahaih hoiah lokdueng;
15Người cất tiếng nói cùng A-ri-ốc, quan thị vệ của vua, rằng: Sao lại có mạng lịnh nghiêm cấp dường ấy ra từ vua? A-ri-ốc bèn kể chuyện cho Đa-ni-ên rõ.
15anih mah Ariok khaeah siangpahrang toepkung misatuh angraeng, tipongah siangpahrang mah karangah lokpaekhaih to sak loe? tiah a naa. To naah Ariok mah Daniel khaeah, Kangcoeng tangcae hmuen kawng to thuih pae.
16Tức thì Đa-ni-ên vào, xin vua cho mình một hạn nữa, hầu có thể giải nghĩa điềm chiêm bao đó cho vua.
16To naah Daniel mah siangpahrang khaeah caeh moe, anih ih amang leh pae hanah atue to hnik.
17Đoạn, Đa-ni-ên trở về nhà, và tỏ sự ấy cho các bạn mình là Ha-na-nia, Mi-sa-ên và A-xa-ria.
17To pacoengah Daniel loe angmah im ah amlaem moe, to tiah kaom hmuen to ampuinawk ah kaom Hananiah, Mishael hoi Azariah khae ah thuih pae:
18Người xin họ cầu Đức Chúa Trời ở trên trời dủ lòng thương xót họ về sự kín nhiệm nầy, hầu cho Đa-ni-ên và đồng bạn mình khỏi phải chết với những bác sĩ khác của Ba-by-lôn.
18Daniel hoi anih ih ampuinawk mah Babylon prae thung ih palungha kaminawk hoi nawnto hum han ai ah, hae panoek thai ai ih hmuen pongah van Sithaw khaeah tahmen hnikhaih lawkthui o si, tiah a naa.
19Vậy sự kín nhiệm được tỏ ra cho Đa-ni-ên trong sự hiện thấy ban đêm; Đa-ni-ên bèn ngợi khen Chúa trên trời.
19Aqum ah loe panoek thai ai ih hmuen hnuksakhaih to Daniel khaeah amtueng pae. To naah Daniel mah van Sithaw to pakoeh.
20Đoạn Đa-ni-ên cất tiếng nói rằng: Ngợi khen danh Đức Chúa Trời đời đời vô cùng! vì sự khôn ngoan và quyền năng đều thuộc về Ngài.
20Daniel mah, palunghahaih hoi thacakhaih loe anih ih ni: Sithaw ih ahmin loe dungzan hoi dungzan khoek to pakoehaih om nasoe:
21Chính Ngài thay đổi thì giờ và mùa, bỏ và lập các vua; ban sự khôn ngoan cho kẻ khôn ngoan, và sự thông biết cho kẻ tỏ sáng.
21Anih mah ni atue hoi khotuenawk to paqoi; siangpahrangnawk to takhoe moe, siangpahrangnawk to a suek; palungha kami khaeah palunghahaih to a paek moe, panoek thaihaih tawn kaminawk khaeah panoekhaih to a paek:
22Chính Ngài tỏ ra những sự sâu xa kín nhiệm; Ngài biết những sự ở trong tối tăm và sự sáng ở với Ngài.
22Anih mah ni kathuk hoi kanghawk hmuennawk to amtuengsak; aanghaih loe anih thungah oh pongah, vinghaih thungah kaom hmuen to anih mah panoek.
23Hỡi Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi! Tôi cảm ơn và ngợi khen Ngài, vì Ngài đã ban cho tôi sự khôn ngoan và quyền phép, và bây giờ Ngài đã khiến tôi biết điều chúng tôi cầu hỏi Ngài, mà tỏ cho chúng tôi biết việc của vua.
23Aw kam panawk ih Sithaw, na nuiah anghoehaih ka tawnh, nang kang pakoeh; palunghahaih hoi thacakhaih to nang paek, nang khaeah kang hnik o ih hmuen to vaihi nang panoeksak boeh; siangpahrang mah hnik ih hmuen to kaicae khaeah nam tuengsak boeh, tiah lawkthuih.
24Vậy nên Đa-ni-ên đến nhà A-ri-ốc, là người vua đã truyền cho diệt những bác sĩ của Ba-by-lôn; và nói cùng người như vầy: Đừng diệt những bác sĩ của Ba-by-lôn; nhưng hãy đưa tôi vào trước mặt vua, thì tôi sẽ giải nghĩa điềm chiêm bao cho vua.
24To pongah Daniel loe siangphrang mah Babylon prae thung ih palungha kaminawk hum han lokpaek ih Ariok taengah caeh moe, anih khaeah, Babylon prae ih palungha kaminawk to hum hmah; siangpahrang hma ah kai hae na hoi ah, kai mah siangpahrang ih amang to ka leh pae han, tiah a naa.
25Bấy giờ A-ri-ốc vội vàng dẫn Đa-ni-ên đến trước mặt vua, và tâu cùng vua như vầy: Tôi đã tìm thấy một người trong những con cái Giu-đa bị bắt làm phu tù, người ấy sẽ cho vua biết sự giải nghĩa đó.
25Ariok mah Daniel to siangpahrang khaeah karangah caeh haih, anih khaeah, Judah prae hoi misong ah hoih ih kaminawk thungah siangpahrang ih amang leh thaih kami maeto ka hnuk boeh, tiah a naa.
26Vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên, mà người ta vẫn gọi là Bên-sơ-xát-sa, rằng: Quả thật rằng ngươi có thể tỏ cho ta biết điềm chiêm bao ta đã thấy, và lời giải nó chăng?
26Siangpahrang mah, Belteshazzar, tiah kawk ih Daniel khaeah, Ka hnuk ih amang to nang leh pae thaih han maw? tiah a naa.
27Đa-ni-ên ở trước mặt vua trả lời rằng: Sự kín nhiệm mà vua đã đòi, thì những bác sĩ, thuật sĩ, đồng bóng, thầy bói đều không có thể tỏ cho vua được.
27Daniel mah, siangpahrang hma ah, Siangpahrang mah dueng ih panoek karai hmuen loe palungha kaminawk, cakaeh khet kop kaminawk, miklet kop kaminawk hoi banpadae khet kop kaminawk mah thui o thai mak ai;
28Nhưng có một Đức Chúa Trời ở trên trời tỏ ra những điều kín nhiệm; và đã cho vua Nê-bu-cát-nết-sa biết điều sẽ tới trong những ngày sau rốt. Vậy, chiêm bao của vua và các sự hiện thấy của đầu vua đã thấy trên giường mình là như vầy:
28toe hmuen kanghawk thuikung Sithaw loe van ah oh; anih mah hmabang ah kaom han koi hmuen to Nebuchadnezzar siangpahrang khaeah amtuengsak boeh. Na maang ih, iihkhun nuiah nang songh naah na hnuk ih hmuen loe hae tiah oh;
29Hỡi vua, khi vua nằm trên giường, có những tư tưởng về sự xảy đến sau nầy, thì Đấng hay tỏ sự kín nhiệm đã cho vua biết sự sẽ xảy đến.
29Aw siangpahrang, nang khaeah, iihkhun nuiah na oh naah hmabang angzo han koi poekhaih to na palung thungah angzoh, hmuen kanghawk amtuengsakkung mah hmabang angzo han koi hmuen to nang khaeah panoeksak boeh.
30Về phần tôi, sự kín nhiệm đó đã tỏ ra cho tôi, không phải vì tôi có sự khôn ngoan gì hơn người nào sống; nhưng để được giải nghĩa cho vua hiểu, và cho vua biết những ý tưởng trong lòng mình.
30Kai loe minawk kalah pong palungha kue pongah hae kanghawk hmuen hae kai khaeah amtueng ai, siangpahrang ih amang to panoek moe, palung thung hoi na poek ih hmuen na panoek thai han ih ni, Sithaw mah kai khaeah amtuengsak.
31Hỡi vua, vua nhìn xem, và nầy, có một pho tượng lớn. Pho tượng đó to lớn và rực rỡ lạ thường; đứng trước mặt vua, và hình dạng dữ tợn.
31Aw siangpahrang, Na khet naah paroeai kalen krang to na hnuk. Hae paroeai kalen kampha krang loe paroeai hoih moe, na hma ah angdoet; amtuenghaih dan loe paroeai zit thoh.
32Đầu pho tượng nầy bằng vàng ròng; ngực và cánh tay bằng bạc; bụng và vế bằng đồng;
32To krang ih lu loe kaciim sui ah oh, saoek hoi ban tampawk loe sum kanglung ah oh moe, zok hoi phaih loe sum kamling ah oh,
33ống chân bằng sắt; và bàn chân thì một phần bằng sắt một phần bằng đất sét.
33a khok loe sum, khokpadae loe sum ahap long ahap ah oh.
34Vua nhìn pho tượng cho đến khi có một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra, đến đập vào bàn chân bằng sắt và đất sét của tượng, và làm cho tan nát.
34Na khet li naah, kami ban hoi pakhoih ai ih thlung maeto mah sum hoi long kangbaeh krang ih khok to vah pongah, khok loe koih o phaeng.
35Bấy giờ sắt, đất sét, đồng, bạc, và vàng đều cùng nhau tan nát cả; trở nên như rơm rác bay trên sân đạp lúa mùa hạ, phải gió đùa đi, chẳng tìm nơi nào cho chúng nó; nhưng hòn đã đập vào pho tượng thì hóa ra một hòn núi lớn và đầy khắp đất.
35To naah sum, long, sum kamling, sum kanglung hoi kaciim suinawk loe nawnto koih o boih moe, nipui tue cang atit ih tavai baktiah oh o; hnuk han om ai ah takhi mah hmuh phaeng; krang va phaeng kalen parai thlung loe mae pui ah angcoeng moe, long ah koi boih.
36Đó là điềm chiêm bao. Bây giờ chúng tôi sẽ giải nghĩa ra trước mặt vua.
36Na mang loe hae tiah oh; vaihi siangpahrang hma ah amang thuikoehhaih to kang thuih pae o han.
37Hỡi vua, vua là vua các vua, vì Chúa trên trời đã ban nước, quyền, sức mạnh, và sự vinh hiển cho vua.
37Aw siangpahrang, Nang loe siangpahrangnawk ih siangpahrang ah na oh; van Sithaw mah prae ukhaih, toksak thaihaih, thacakhaih hoi lensawkhaih to nang hanah ang paek.
38Ngài đã trao trong tay vua những con cái loài người, những thú đồng và chim trời, dầu chúng nó ở nơi nào, Ngài cũng đã làm cho vua được cai trị hết thảy; vậy vua là cái đầu bằng vàng.
38Kami caanawk ohhaih ahmuen kruekah, anih mah moinawk hoi van ih tavaanawk boih na ban ah paek boeh, nihcae boih ukkung ah nang to ang suek. Kaciim sui hoi sak ih lu loe nang thuikoehhaih ih ni.
39Nhưng sau vua, sẽ dấy lên một nước khác, kém nước của vua; rồi một nước thứ ba, tức là đồng, sẽ cai quản khắp đất.
39Nang pacoengah nang pong ka hnaem kue, siangpahrang ukhaih prae kalah maeto om tih; to pacoengah thumto haih sum kamling ukhaih prae, tiah kaom, kalah siangpahrang ukhaih prae mah long nui to uk boih tih.
40Lại có một nước thứ tư mạnh như sắt; vì sắt hay đập vỡ và bắt phục mọi vật, thì nước ấy cũng sẽ đập vỡ và nghiền nát như là sắt vậy.
40Palito haih thacak siangpahrang ukhaih prae loe sum kamtak baktiah om tih; sum mah loe kalah hmuennawk to koihsak moe, hmuen boih to pazawk; sum mah hmuennawk boih koihsak baktih toengah, anih mah kalah hmuennawk to koisak ueloe, pacaekthlaek tih.
41Còn như vua đã thấy bàn chân và ngón chân nửa bằng đất sét nửa bằng sắt, ấy là một nước sẽ phải phân chia ra; nhưng trong nước đó sẽ có sức mạnh của sắt, theo như vua đã thấy sắt lộn với đất sét.
41Na hnuk ih krang ih khokpadae hoi khokpazungnawk loe sum ahap long ahap ah oh baktih toengah, to siangpahrang ukhaih prae loe angkom thai mak ai; toe na hnuk ih krang loe sum hoi long angbaeh baktih toengah, prae thungah sum thacakhaih to om tih.
42Những ngón chân nửa sắt nửa đất sét, nước đó cũng nửa mạnh nửa giòn.
42Na hnuk ih sum hoi long angbaeh khokpazungnawk baktih toengah, prae loe ahap thacak ueloe, ahap koi tih.
43Vua đã thấy sắt lộn với đất sét, ấy là chúng nó lộn nhau bởi giống loài người; song không dính cùng nhau, cũng như sắt không ăn với đất sét.
43Na hnuk ih sum hoi long angbaeh baktih toengah, nihcae loe acaeng kalah kaminawk hoi angbaeh o tih; toe sum hoi long angbet thai ai baktih toengah, nihcae loe maeto hoi maeto poek amhong o mak ai.
44Trong đời các vua nầy, Chúa trên trời sẽ dựng nên một nước không bao giờ bị hủy diệt, quyền nước ấy không bao giờ để cho một dân tộc khác; song nó sẽ đánh tan và hủy diệt hết các nước trước kia, mà mình thì đứng đời đời;
44To siangpahrangnawk ih atue thuem ah, natuek naah doeh amro thai ai siangpahrang ukhaih prae to van Sithaw mah phasak tih; to ukhaih prae loe minawk kalah khaeah caehtaak mak ai, siangpahrang ukhaih praenawk to amrosak boih ueloe, boenghaih phasak tih; toe anih ih prae loe dungzan khoek to cak tih.
45Theo như vua đã xem thấy hòn đá đục ra từ núi, chẳng phải bởi tay, đã đập vỡ sắt, đồng, đất sét, bạc, và vàng. Đức Chúa Trời lớn đã cho vua biết sự sau nầy sẽ đến. Điềm chiêm bao nầy là thật, và lời giải nó là chắc chắn.
45Na hnuk ih kami ban hoi sak ih na ai ah mae thung hoi lak ih thlung mah, koi phaeng ah vah ih sum, sum kamling, long, kaciim sui hoi sum kanglungnawk loe, lensawk Sithaw mah hmabang ah kaom han koi hmuen siangpahrang khaeah amtuengsak ih ni; amang loe palung uihcom han om ai, amang lehhaih loe tangtang ah oh, tiah a naa.
46Bấy giờ vua Nê-bu-cát-nết-sa sấp mặt xuống, lạy Đa-ni-ên, và truyền dâng lễ vật cùng đồ thơm cho người.
46To naah Nebuchadnezzar loe a hma ah akuep moe, Daniel to bok, anih khaeah hmuihoih to thlaek moe, hmuenpaekhaih sak hanah lok a paek.
47Đoạn, vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Quả thật, Đức Chúa Trời các ngươi là Đức Chúa Trời của các thần, và là Chúa của các vua; chính Ngài là Đấng tỏ ra những sự kín nhiệm, vì ngươi đã có thể tỏ ra sự kín nhiệm nầy.
47Siangpahrang mah Daniel khaeah, Na Sithaw loe sithawnawk ih Sithaw, siangpahrangnawk ih Angraeng, kanghawk hmuen amtuengsak Sithaw ah oh tangtang pongah, hae panoek ai ih hmuen hae nang thuih thaih, tiah a naa.
48Vua bèn tôn Đa-ni-ên lên sang trọng và ban cho người nhiều lễ vật trọng. Vua lập người cai trị cả tỉnh Ba-by-lôn, và làm đầu các quan cai những bác sĩ của Ba-by-lôn.
48Siangpahrang mah Daniel hanah kalen tok to paek, pop parai tangqum doeh a paek; anih to Babylon prae ahap ukkung ah suek moe, Babylon palungha kaminawk boih ukkung ah doeh a suek.
49Đa-ni-ên cầu xin vua, thì vua lập Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô cùng cai trị tỉnh Ba-by-lôn, còn Đa-ni-ên thì chầu nơi cửa vua.
49To pacoengah Daniel mah hnik ih baktih toengah siangpahrang mah, Shadrach, Meshach hoi Abed-nego cae doeh Babylon prae ahap ukkung ah suek; toe Daniel loe siangpahrang ohhaih im ah toksak.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.