Đa
Chapter 5
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vua Bên-xát-sa dọn tiệc lớn đãi một ngàn đại thần mình, và vua uống rượu trước mặt họ.
1Belshazzar siangpahrang mah angmah ih angraeng sangto hanah kalen parai buh raenghaih to sak pae moe, angraengnawk hoi nawnto misurtui to a naek.
2Vua Bên-xát-sa đang nhấm rượu, truyền đem những khí mạnh bằng vàng và bạc mà vua Nê-bu-cát-nết-sa, cha mình, đã lấy trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, hầu cho vua và các đại thần, cùng các hoàng hậu và cung phi vua dùng mà uống.
2Belsahazzar mah misurtui pataeng pacoengah, angmah ih angraeng kalennawk, a zunawk, a zulanawk hoi nawnto misurtui a naek hanah, ampa Nebuchadnezzar mah Jerusalem tempul thung hoiah lak ih sui, sum kanglung hoi sak ih boengloengnawk to anih khaeah sin pae o hanah lok a paek.
3Người ta bèn đem đến những khí mạnh bằng vàng đã lấy từ trong đền thờ của nhà Đức Chúa Trời, tại Giê-ru-sa-lem; và vua cùng các đại thần, các hoàng hậu và cung phi mình dùng mà uống.
3To pongah nihcae mah Jerusalem Sithaw im tempul thung hoi lak ih sui boengloengnawk to sin pae o; to pacoengah siangpahrang angmah hoi angmah ih angraengnawk, a zunawk hoi zulanawk loe to sui boengloeng hoiah misurtui to naek o.
4Vậy họ uống rượu và ngợi khen các thần bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng, bằng sắt, bằng gỗ và bằng đá.
4Misurtui a naek o moe sui, sum kanglung, sum kamling, sum, thing, thlung hoiah sak ih sithawnawk to pakoeh o.
5Chính giờ đó, co những ngón tay của bàn tay người hiện ra, viết trên vôi tường cung vua, đối ngay chỗ để chân đèn; và vua trông thấy phần bàn tay đó đang viết.
5Akra ai ah kami maeto ih banpazung to amtueng moe, siangpahrang imthung hmaithawk paaanghaih taeng ih tapang nuiah ca to tarik; to tiah ca tarik banpazung to siangpahrang mah hnuk.
6Bấy giờ vua biến sắc mặt, các ý tưởng làm cho vua bối rối; các xương lưng rời khớp ra, và hai đầu gối chạm vào nhau.
6Siangpahrang loe zit loiah mikhmai set, anih kaenghuh to amkhraeng pae ving moe, a khokkhu doeh thazok pae sut.
7Vua kêu lớn tiếng truyền vời các thuật sĩ, người Canh-đê, và thầy bói đến. Đoạn, vua cất tiếng và nói cùng những bác sĩ của Ba-by-lôn rằng: Ai đọc được chữ nầy và giải nghĩa ra cho ta, thì sẽ được mặc màu tía, được đeo vòng vàng vào cổ, và được dự bật thứ ba trong việc chánh trị nhà nước.
7To naah siangpahrang mah cakaeh khet kop kaminawk, Khaldian kaminawk hoi lungh aat thaih kaminawk to angmah khaeah kawk. Babylon prae ih palungha kaminawk khaeah, Mi kawbaktih doeh hae tarik ih ca kroek thaih moe, a thuih koehhaih leh thaih kami loe rong kamling khukbuen hoiah kam thoepsak han, tahnong ah sui bungmu ka oihsak moe, siangpahrang ukhaih prae thungah kasang koek thumto haih ukkung ah ka suek han, tiah a naa.
8Bấy giờ hết thảy bác sĩ của vua đều vào; nhưng họ không đọc được chữ, cũng không thể cắt nghĩa cho vua được.
8To naah siangpahrang ih palungha kaminawk boih angzoh o; toe tarik ih ca to kroek pae o thai ai moe, a thuih koehhaih doeh siangpahrang han leh pae o thai ai.
9Vua Bên-xát-sa lấy làm bối rối lắm; sắc mặt người đổi đi; các quan đại thần đều bỡ ngỡ.
9Belshazzar siangpahrang loe mawnh loiah mikhmai set moe, angam sut, anih ih toksah angraengnawk doeh dawnrai o sut boeh.
10Bà thái hậu, vì cớ lời của vua và các quan đại thần đã nói, bèn vào trong phòng tiệc, cất tiếng nói rằng: Hỡi vua, chúc vua sống đời đời! Xin vua chớ để tư tưởng bối rối, chớ đổi sắc mặt đi!
10Siangpahrang zu mah siangpahrang hoi anih ih toksah angraengnawk ih lok to thaih naah, buhcaakhaih imthung ah a caeh; siangpahrang zu mah anih khaeah, Aw siangpahrang, na hinglung sawk nasoe; mawn khing hmah loe, na mikhmai doeh saesak hmah!
11Trong nước vua có một người, linh của các thần thánh ở trong nó. Về đời vua cha, người ta thấy trong nó có ánh sáng, sự thông minh, khôn ngoan, như sự khôn ngoan của các vì thần. Vậy nên vua Nê-bu-cát-nết-sa, cha vua, chính cha vua, đã lập người lên làm đầu các đồng bóng, thuật sĩ, người Canh-đê và thầy bói,
11Na prae thungah kaciim sithawnawk ih muithla katawn kami maeto oh; nam pa hing naah doeh, kami nuiah sithaw palunghahaih baktiah palunghahaih hoi panoekhaih to amtueng boeh; nam pa, siangpahrang Nebuchadnezzar, nam pa siangpahrang mah, anih to miklet kop kaminawk, cakaeh khet kop kaminawk, lungh aat thaih kaminawk hoi khaldian kaminawk ukkung ah a suek;
12bởi vì Đa-ni-ên mà vua đã đặt tên là Bên-tơ-xát-sa, trong người có linh tánh tốt lành, có sự thông biết và khôn sáng để giải được những điềm chiêm bao, cắt nghĩa được những câu kín nhiệm, và làm cho những sự hồ nghi tan chảy. Vậy bây giờ hãy sai gọi Đa-ni-ên, và người sẽ giải nghĩa cho.
12siangpahrang mah Belteshazzar, tiah ahmin phui ih Daniel loe poekhaih palungthin, panoekhaih hoi kasang koek panoek thaihaih tawn kami, amang leh thaihaih, panoek karai hmuennawk pathlaeng kami, palung haenghaihnawk thuicaikung ah oh. Daniel to kawk ah, anih mah a thuih koehhaih to na leh pae tih hmang, tiah a naa.
13Bấy giờ Đa-ni-ên được đem đến trước mặt vua. Đoạn, vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Ngươi có phải là Đa-ni-ên, một trong các con cái phu tù Giu-đa, mà vua cha ta đã điệu từ Giu-đa về chăng?
13To pongah Daniel to siangpahrang hma ah caeh o haih. Siangpahrang mah, Nang loe kam pa siangpahrang mah, naeh ih Judah kaminawk thungah kathum Daniel maw? tiah a naa.
14Ta đã nghe nói về ngươi rằng linh của các thần ở trong ngươi, và người ta đã thấy trong ngươi có ánh sáng, sự thông minh, và khôn ngoan lạ thường.
14Na thungah sithawnawk ih muithla to oh moe, panoek thaihaih hoi kasang koek palunghahaih tawn kami ah na oh, tiah ka thaih.
15Bây giờ những bác sĩ và thuật sĩ đã được đem đến trước mặt ta để đọc những chữ nầy và giải nghĩa cho ta; nhưng họ không giải nghĩa được.
15Vaihi haeah tarik ih ca hae kroek moe, a thuih koehhaih leh hanah palungha kaminawk hoi cakaeh khet kop kaminawk, ka hma ah angzoh o haih; toe nihcae mah a thuih koehhaih to na leh pae o thai ai:
16Ta nghe nói rằng ngươi có thể giải nghĩa và làm cho những sự hồ nghi tan chảy. Vậy nếu ngươi đọc được chữ nầy và giải nghĩa cho ta, thì sẽ được mặc màu tía, sẽ mang vòng vàng nơi cổ, và dự chức thứ ba trong việc chánh trị nhà nước.
16nang mah loe a thuih koehhaih leh thaih moe, karai parai hmuennawk doeh pathlaeng thaih, tiah ka thaih; tarik ih ca hae na kroek thaih moe, a thuih koehhaih nang leh pae thaih nahaeloe, rong kamling khukbuen to kang khuksak han, sui bungmu kang oihsak moe, siangpahrang ukhaih prae thungah kasang koek thumto haih ukkung ah kang ohsak han, tiah a naa.
17Bấy giờ Đa-ni-ên cất tiếng và nói trước mặt vua rằng: Vua hãy giữ lại của ban thưởng, và lễ vật vua hãy ban cho kẻ khác! Dầu vậy, tôi sẽ đọc chữ viết đó và giải nghĩa cho vua.
17To naah Daniel mah siangpahrang khaeah, Tangqumnawk loe nangmah hanah suem ah, to tih ai boeh loe minawk kalah han paek halat ah; toe tarik ih ca loe siangpahrang hanah kang kroek pae moe, a thuih koehhaih doeh kang leh pae han, tiah a naa.
18Hỡi vua, Đức Chúa Trời Rất Cao đã ban ngôi vua và quyền thế lớn, sự tôn vinh và uy nghiêm cho cha vua là Nê-bu-cát-nết-sa.
18Aw siangpahrang, Kasang koek Sithaw mah, lensawkhaih, thacakhaih hoi pakoehhaih to nam pa Nebuchadnezzar khaeah paek.
19Vì cớ Ngài đã ban cho người quyền to, thì hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều run rẩy trước mặt người, và sợ hãi người. Người muốn giết ai thì giết, và muốn để ai sống thì để. Người nâng ai cao lên hay hạ ai thấp xuống thì tùy ý người.
19Lensawk thacakhaih anih hanah paek pongah, kaminawk boih, prae kaminawk, lok congca apae kaminawk loe anih hma ah tasoeh takuenhaih, zithaih hoiah oh o. Siangpahrang loe hum han koeh ih kami to a hum; hingsak han koeh ih kami to a hingsak; ahmuen kasang ah suek han koeh ih kami to a suek; atlim ah pakhrak han koeh ih kami to pakhrak.
20Nhưng vì lòng người tự cao, và tánh người cứng cỏi, làm một cách kiêu ngạo, nên người bị truất mất ngôi vua và lột hết sự vinh hiển.
20Toe poekhaih to sang moe, amoekhaih hoiah palung amtaak naah loe, siangpahrang angdoethaih ahmuen hoiah pakhrak tathuk moe, a lensawkhaih to khring pae ving:
21Người bị đuổi khỏi giữa các con trai loài người; lòng người trở nên giống như lòng súc vật, và chỗ ở người thì cùng với những lừa rừng. Người bị nuôi bằng cỏ như bò, và thân người bị nhuần thấm sương móc trên trời, cho đến khi người nhận biết rằng Đức Chúa Trời Rất Cao cai trị trong nước loài người, và Ngài muốn lập ai lên đó tùy ý.
21anih loe kaminawk salak hoiah haek ving ah oh moe, taw ih kasan moi ih palungthin to a paek, anih loe taw ih hrangnawk hoi nawnto khosak; kaminawk ih prae loe kasang koek Sithaw mah uk moe, angmah paek koeh ih kami to a paek, tiah panoek ai karoek to, maitaw baktiah qam to a caaksak, van ih dantui hoiah takpum to a suisak.
22Hỡi vua Bên-xát-sa, con của người, vua cũng vậy, dầu vua đã biết hết các việc ấy, mà lòng vua cũng không chịu nhún nhường chút nào;
22Nang loe anih ih capa, Aw Belshazzar, hmuenanwk boih na panoek, toe poekhaih palungthin na pahnaem ai;
23nhưng vua đã lên mình nghịch cũng Chúa trên trời, mà khiến đem đến trước vua những khí mạnh của nhà Ngài, và dùng mà uống rượu, cùng với các quan đại thần, các hoàng hậu và cung phi vua. Vua cũng đã tôn vinh thần bằng bạc, bằng vàng, bằng đồng, bằng sắt, bằng gỗ và bằng đá, là những thần không thấy không nghe không biết gì; và vua không thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng cầm trong tay Ngài hơi thở và hết thảy các đường lối của vua.
23nam oek moe, van Angraeng to misa ah na suek; anih tempul thung ih boengloengnawk to na hma ah na sinsak; to ih boengloengnawk hoiah nangmah hoi nangmah ih angraengnawk, na zunawk hoi na zulanawk anwnto misurtui na naek o; sui, sum kanglung, sum kamling, sum, thing, thlung hoiah sak ih tidoeh thaih kophaih tawn ai, hnu thai ai, panoek thai ai sithawnawk to na pakoeh o. Na hinghaih hoi na caehhaih loklamnawk boih ban hoi patawnkung Sithaw to na pakoeh o ai;
24Vậy nên từ nơi Ngài đã sai phần bàn tay nầy đến, và chữ đó đã vạch ra.
24to pongah hae ca tarik hanah, a ban to ang patoeh.
25Những chữ đã vạch ra như sau nầy: Mê-nê, Mê-nê, Tê-ken, U-phác-sin.
25Ca loe MENE, MENE, TEKEL, UPHARSIN, tiah tarik.
26Nầy là nghĩa những chữ đó: Mê-nê là: Đức Chúa Trời đã đếm nước vua và khiến nó đến cuối cùng.
26Hae lok thuih koehhaih loe hae tiah oh: MENE: Sithaw mah siangpahrang ah na ohhaih ni to pakoep moe, boengsak boeh.
27Tê-ken là: Vua đã bị cân trên cái cân, và thấy là kém thiếu.
27TEKEL: nang to coih ang tah naah, na vawt sut boeh.
28Phê-rết là: Nước vua bị chia ra, được ban cho người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ.
28PERES: na ukhaih prae loe koih boeh moe, Median hoi Persia kaminawk khaeah paek ving boeh, tiah a naa.
29Tức thì, theo lịnh truyền của vua Bên-xát-sa, người ta mặc màu tía cho Đa-ni-ên; đeo vào cổ người một vòng vàng, và rao ra rằng người được dự chức thứ ba trong việc chánh trị nhà nước.
29To pacoeng loe Belshazzar lokpaekhaih baktih toengah, Daniel to rong kamling khukbuen angkhuk o sak, tahnong ah sui bungmu a oih o sak moe, prae thungah kasang koek thumto haih ukkung ah taphong o.
30Ngay đêm đó, vua người Canh-đê là Bên-xát-sa bị giết.
30To na ni aqum ah Babylon kaminawk ih siangpahrang, Belshazzar to hum o.
31Rồi Đa-ri-út là người Mê-đi được nước, bấy giờ tuổi người độ sáu mươi hai.
31Saning qui taruk, hnetto phak naah, Median kami Darius mah siangpahrang ih prae to lak pae ving.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.