Đa
Chapter 6
Vietnamese Bible (1923 t…
vs Asang Khongca Bibl…
Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Vua Đa-ri-út ưng đặt trong nước một trăm hai mươi quan trấn thủ, để chia nhau trị cả nước,
1Siangpahrang ukhaih thung boih ah prae ukkung angraeng cumvai, pumphaeto suek hanah, Darius koehhaih oh;
2và trên họ có ba quan thượng thơ, mà một là Đa-ni-ên. Các quan trấn thủ phải khai trình với ba quan đó, hầu cho vua khỏi chịu một sự tổn hại nào.
2nihcae to kahoih ah uk moe, siangpahrang ukhaih amro han ai ah, ukkung angraeng thumto a kawk; to kami thumto thungah Daniel doeh athum toeng.
3Vả, Đa-ni-ên lại trổi hơn hai quan thượng thơ kia và các quan trấn thủ, vì người có linh tánh tốt lành; thì vua định lập người trên cả nước.
3Daniel loe kalah prae ukkung hoi angraengnawk pong kasang koek poekhaih palungthin to tawnh pongah, siangpahrang mah anih khaeah prae to aap boih hanah poek.
4Các quan thượng thơ và trấn thủ bèn tìm cớ kiện Đa-ni-ên về việc nước; nhưng họ không thể tìm được một cớ nào, hay một sự xấu nào của người, bởi người là trung thành, trong người chẳng có điều lỗi và cũng chẳng có sự xấu.
4Prae ukhaih kawng pongah ukkungnawk hoi angraengnawk mah Daniel sakpazaehaih hnuk thai hanah pakrong o; toe kasae sakpazaehaih to hnu o thai ai; anih loe oepthoh moe, sakpazaehaih om ai pongah sethaih to hnu o thai ai.
5Vậy những người đó nói rằng: Chúng ta không tìm được một cớ nào mà cáo Đa-ni-ên nầy, nếu chúng ta chẳng tìm trong sự thuộc về luật pháp Đức Chúa Trời nó.
5Hnukkhuem koek ah to ih kaminawk mah, a bok ih Sithaw kawng pong ai ah loe hae kami Daniel nuiah sakpazaehaih a hnu o thai mak ai, tiah thuih o.
6Các quan thượng thơ và trấn thủ đó bèn vào chầu vua và tâu rằng: Hỡi vua Đa-ri-út, chúc vua sống đời đời!
6To pongah ukkungnawk hoi angraengnawk siangpahrang khaeah caeh o moe, anih khaeah, Aw Darius siangpahrang, na hinglung sawk nasoe!
7Hết thảy các quan thượng thơ trong nước, các quan lãnh binh, các quan trấn thủ, các nghị viên và các đại thần đều đồng tình xin vua ra chỉ dụ, lập một cấm lịnh nghiêm nhặt trong ba mươi ngày, hễ ai cầu xin thần nào hay một người nào ngoài vua, thì, hỡi vua, kẻ ấy sẽ phải quăng vào hang sư tử.
7Siangpahrang prae thung ih zaehoikungnawk, angraengnawk, poekhaih paekkungnawk, misatuh angraengnawk boih kam khueng o moe, Aw siangpahrang, nang khue ai ah, kalah Sithaw khaeah maw, to tih ai boeh loe kalah kami khaeah maw, ni qui thumto thung lawkthui kami loe, kaipui paunghaih akhaw thungah va oh, tiah aek thai ai siangpahrang lokpaekhaih kacak rap ah sak hanah ka thuih o.
8Bây giờ hỡi vua, hãy lập điều cấm đó và ký tên vào, hầu cho không đổi thay đi, theo như luật pháp của người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ, không thể đổi được.
8To pongah vaihi, Aw siangpahrang, amkhrai thai ai, Median hoi Persian kaminawk ih daan baktih toengah, lok takroekhaih to sah ah loe, pakhraih thaih han ai ah, ca ah tarik ah, tiah a naa o.
9Vậy vua Đa-ri-út bèn ký tên lập cấm lịnh đó.
9To pongah Darius siangpahrang mah tarik ih ca hoi lok takroekhaih to catui daengh o.
10Khi Đa-ni-ên nghe rằng chỉ dụ đó đã ký tên rồi, thì về nhà mình (những cửa sổ của phòng người thì mở về hướng Giê-ru-sa-lem). Tại đó, cứ một ngày ba lần, người quì gối xuống, cầu nguyện, xưng tạ trước mặt Đức Chúa Trời mình, như vẫn làm khi trước.
10To tiah tarik ih ca to catui daeng boeh, tiah Daniel mah panoek naah, angmah im ah amlaem. Im ranui ah dawh moe, Jerusalem bangah kanghae thokbuem to paongh, nito naah vai thumto khokkhu cangkrawn hoiah lawk a thuih; canghnii hoi a sakzong ih baktih toengah, angmah ih Sithaw khaeah anghoehaih lawk a thuih.
11Bấy giờ những người đó nhóm lại, thấy Đa-ni-ên đang cầu nguyện nài xin trước mặt Đức Chúa Trời mình.
11To naah Daniel loe angmah ih Sithaw khaeah lawkthuih moe, tahmenhaih a hnik, tiah to ah amkhueng toksah angraengnawk mah hnuk o.
12Họ bèn đến chầu vua và tâu cùng vua về cấm lịnh của vua rằng: Hỡi vua, vua chẳng từng ký tên vào một cấm lịnh rằng trong ba mươi ngày, hễ ai cầu xin thần nào hay người nào ngoài vua, thì sẽ phải quăng vào hang sư tử đó chăng? Vua trả lời rằng: Sự đó là thật, theo như luật pháp của người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ, không thể đổi được.
12To pongah nihcae loe siangpahrang khaeah caeh o moe, siangpahrang mah sak ih lok takroekhaih to a thuih pae o; Aw siangpahrang, nang khae khue ai ah, kalah Sithaw khaeah maw, to tih ai boeh loe kalah kami khaeah maw, ni qui thumto thung lawkthui kami loe, kaipui paunghaih akhaw thungah va oh, tiah lokpaekhaih to catui na daengh boeh na ai maw? tiah a naa o. Siangpahrang mah, Amkhrai thai ai, Median hoi Persian kaminawk ih daan baktih toengah, lok takroekhaih loe cak bae, tiah a naa.
13Họ bèn đáp lại và tâu vua rằng: Đa-ni-ên, là một trong những con cái phu tù Giu-đa, không có lòng kiêng nể vua chút nào, hỡi vua, dầu đến cấm lịnh vua đã ký tên cũng vậy; song nó cứ một ngày cầu nguyện ba lần.
13To naah nihcae mah siangpahrang khaeah, Aw siangpahrang, Judah prae ah naeh ih Judah kaminawk thungah kathum, Daniel loe nang to tiah doeh sah ai, catui na daeng ih lokpaekhaih doeh dawncang ai; nito naah vai thumto lawk a thuih, tiah a naa o.
14Khi vua nghe những lời đó, thì lấy làm buồn bã lắm; vua định lòng giải cứu Đa-ni-ên, và mãi đến khi mặt trời lặn, cố hết sức tìm thể để giải cứu người.
14Siangpahrang mah to lok to thaih naah, palung set, Daniel to loisak hanah a poek; anih loisak hanah niduem khoek to tha pathok.
15Nhưng các người đó nhóm lại cùng vua và tâu rằng: Hỡi vua, xin biết rằng theo luật pháp của người Mê-đi và người Phe-rơ-sơ, hễ là cấm lịnh hay chỉ dụ nào mà vua đã lập định rồi, thì không thể thay đổi được.
15To pacoengah to kaminawk loe siangpahrang khaeah caeh o moe, Aw siangpahrang, Median hoi Persian kaminawk ih daan baktih toengah, siangpahrang mah sak ih lokpaekhaih hoi daan loe pakhrai thai ai boeh, tiah panoek ah, tiah a naa o.
16Bấy giờ vua truyền điệu Đa-ni-ên đến, và phải ném người vào hang sư tử. Vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Đức Chúa Trời ngươi là Đấng ngươi hằng hầu việc, sẽ giải cứu ngươi.
16To pongah siangpahrang mah paek ih lok baktih toengah, nihcae mah Daniel to cae o haih moe, kaipui khaw thungah vah o. Siangpahrang mah Daniel khaeah, Boeng ai ah na bok ih Sithaw mah na pahlong tih hmang! tiah a naa.
17Người ta bèn đem đến một hòn đá chận nơi cửa hang, và vua đóng ấn mình cùng ấn các đại thần nữa, hầu cho không có điều gì thay đổi được về Đa-ni-ên.
17Thlung kangphaek maeto lak o moe, thlungkhaw to kraeng o khoep; siangpahrang mah Daniel nuiah lokcaekhaih amkhrai thai han ai ah, angmah ih tacik hoi angmah angraengnawk ih tacik to daengh.
18Sau đó, vua trở về cung mình, và suốt đêm kiêng ăn, cũng không đem bạn nhạc đến trước mặt mình, và vua không ngủ được.
18To pacoengah siangpahrang loe angmah im ah amlaem, aqum puek buh caa ai; katoeng tamoi kruek kop kaminawk doeh anih khaeah caeh o ai; to pongah iip thai ai boeh.
19Đoạn, vua dậy sớm, khi hừng sáng, vội vàng đi đến hang sư tử.
19Siangpahrang loe akhawnbang khawnthaw ah angthawk moe, kaipui khaw ohhaih ahmuen ah karang ah caeh.
20Khi vua đến gần hang, lấy giọng rầu rĩ mà kêu Đa-ni-ên; vua cất tiếng nói cùng Đa-ni-ên rằng: Hỡi Đa-ni-ên, tôi tớ Đức Chúa Trời hằng sống! Đức Chúa Trời ngươi mà ngươi hằng hầu việc có thể giải cứu ngươi khỏi sư tử được chăng?
20Kaipui khaw taeng a phak naah qah hoiah Daniel to a palawk, Aw Daniel, kahing Sithaw ih tamna, boeng thai ai ah na bok ih, na Sithaw mah, kaipui pakha thung hoiah ang loisak maw? tiah a naa.
21Bấy giờ Đa-ni-ên tâu cùng vua rằng: Hỡi vua, chúc vua sống đời đời!
21To naah Daniel mah, Aw siangpahrang, na hinglung sawk nasoe!
22Đức Chúa Trời tôi đã sai thiên sứ Ngài, và bịt miệng các sư tử, nên chúng nó không làm hại chi đến tôi, bởi tôi đã được nhận là vô tội trước mặt Ngài. Hỡi vua, đối với vua cũng vậy, tôi chẳng từng làm hại gì.
22Ka Sithaw mah angmah ih van kami to patoeh moe, kaipui pakha to tamuep khoep pongah, ahmaa ka caa ai; a mikhnuk ah zaehaih ka tawn ai, Aw siangpahrang, na hma ah zaehaih tidoeh ka sah ai pongah, nganbawh kana na paek ai, tiah a naa.
23Bấy giờ vua mừng rỡ lắm, và truyền đem Đa-ni-ên lên khỏi hang. Vậy Đa-ni-ên được đem lên khỏi hang, và người ta không thấy một vết tích nào trên người, bởi người đã nhờ cậy Đức Chúa Trời mình.
23To naah siangpharang loe paroeai anghoe moe, Daniel to kaipui khaw thung hoiah lak hanah lok a paek. Daniel to kaipui khaw thung hoiah lak o, anih loe angmah ih Sithaw to tang pongah, takpum nuiah nganbawh kana tidoeh hnu ai.
24Theo lịnh vua, những kẻ đã kiện Đa-ni-ên ấy cùng con cái và vợ họ đều bị điệu đến quăng vào hang sư tử. Khi họ chưa đến dưới đáy hang, thì những sư tử đã vồ lấy và xé xương hết thảy.
24To pacoengah siangpahrang lokpaekhaih baktih toengah, Daniel zaehaih net kaminawk to hoih o moe, a caanawk hoi a zunawk boih kaipui khaw thungah vah o; nihcae loe kaipuinawk mah rawkcak ah caak han mataeng doeh khawt ai, long ah pha o ai naah, kaipuinawk mah nihcae ih ahuh to taaih pae o boih.
25Bấy giờ, vua Đa-ri-út viết cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng ở khắp trên đất rằng: Nguyền cho sự bình an các ngươi được thêm lên!
25To naah Darius siangpahrang mah, kaminawk boih, prae kaminawk, lok congca pae kaminawk khaeah, Monghaih nangcae khaeah pung nasoe!
26Ta ban chiếu chỉ rằng, trong khắp miền nước ta, người ta phải run rẩy kính sợ trước mặt Đức Chúa Trời của Đa-ni-ên; vì Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống và còn đời đời. Nước Ngài không bao giờ bị hủy diệt, và quyền Ngài sẽ còn đến cuối cùng.
26Ka ukhaih prae thungah kaom kaminawk boih mah Daniel ih Sithaw hmaa ah tasoeh takuenhaih hoi zithaih hoiah om o nasoe, tiah lok takroekhaih to ka sak boeh. Anih loe dungzan khoek to kacak, kahing Sithaw ah oh, a prae loe amro mak ai, a ukhaih doeh long boeng khoek to cak tih.
27Ngài cứu rỗi và giải thoát, làm những dấu lạ sự lạ ở trên trời dưới đất, đã cứu Đa-ni-ên khỏi quyền thế sư tử.
27Anih mah ni pahlong moe, loisak, van hoi long ah angmathaih hoi dawnrai hmuennawk to a sak; anih mah ni Daniel to kaipui thacakhaih thung hoiah pahlong, tiah ca tarik pae.
28Đa-ni-ên cứ được thạnh vượng như vậy trong đời vua Đa-ri-út và vua Si-ru là người Phe-rơ-sơ.
28To pongah Daniel loe Darius siangpahrang ukhaih thung hoi Persia kami Cyrus siangpahrang ukhaih thungah, khosak hoihhaih to hnuk.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.