Đa 10
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Năm thứ ba đời vua Si-ru nước Phe-rơ-sơ, có một sự tỏ ra cho Đa-ni-ên cũng gọi là Bên-tơ-xát-sa. Sự tỏ ra đó là thật, tức là sự chiến tranh lớn. Đa-ni-ên hiểu sự đó, và rõ được ý của sự hiện thấy.
1Persia siangpahrang Cyrus angraenghaih saning thumto haih naah, Belteshazzar, tiah kawk ih Daniel khaeah, hmuen maeto amtueng; hnuksak ih hmuen loe tangtang ah oh, toe atue loe sawk parai; anih mah to hmuen kawng to panoek, hnuksakhaih doeh panoek thaih.
2Trong những ngày đó, ta, Đa-ni-ên đang buồn rầu trải ba tuần lệ trọn.
2Kai, Daniel loe to atue zarh thumto thung palungsethaih hoiah ka oh.
3Ta chẳng ăn bánh ngon, thịt và rượu chẳng vào miệng ta, và ta không xức dầu chi hết cho đến chừng ba tuần đã mãn.
3Zarh thumto koep ai karoek to, caaknaek kahoih ah kaom takaw, moi hoi misurtuinawk roe ka pataengh ai, situi doeh kang nok ai.
4Ngày thứ hai mươi bốn tháng giêng, ta ở kề bờ sông lớn Hi-đê-ke.
4Khrah tangsuekhaih ni pumphae palito naah, kai loe Hiddekel, tiah kawk ih Tigris vapui taengah kang doet;
5Ta nhướng mắt nhìn xem, nầy, một người mặc vải gai, chung quanh lưng thắt đai bằng vàng ròng U-pha.
5ka khet tahang naah puu ngan laihaw angkhuk, kaeng ah kaciim sui kaengkaeh kangzaeng, kami maeto ka hnuk:
6Mình người như bích ngọc; mặt người như chớp, và mắt như đuốc cháy; tay và chân như đồng đánh bóng, và tiếng nói như tiếng đám đông.
6a takpum loe beryl thlung baktiah oh, a mikhmai loe tangphrapuek aengh baktiah ampha, a mik loe kangqong hmai baktiah oh, a ban hoi khok loe sum kamling baktiah ampha, a lok loe pop parai kaminawk ih lok baktiah oh.
7Ta, Đa-ni-ên, chỉ có một mình ta xem sự hiện thấy đó, vì những kẻ ở cùng ta không thấy sự hiện thấy đó; nhưng họ run rẩy quá, chạy trốn để ẩn mình.
7Hnuksakhaih loe kai, Daniel khue mah ni hnuk, kai hoi nawnto kaom kaminawk loe hnu o ai; nihcae loe paroeai zit o pongah anghawk hanah cawnh o ving.
8Vậy ta sót lại một mình, và thấy sự hiện thấy lớn đó thì chẳng còn sức nữa. Mặt ta biến sắc cho đến tái đi, và ta không còn sức nữa.
8To pongah kai ang caeh o taak, hae kalen parai hnuksakhaih to ka khet naah, tha ka zok sut; mikhmai doeh duek sut moe, tha roe ka tawn ai.
9Song ta còn nghe tiếng của những lời người, và vừa nghe xong, ta ngủ mê đi, nằm sấp mặt xuống đất.
9Toe a thuih ih lok to ka thaih, a thuih ih lok ka thaih naah, long ah ka kuep moe, ka iih.
10Bấy giờ có một bàn tay rờ đến ta, khiến ta dậy, chống đầu gối và bàn tay trên đất.
10Khenah, ban maeto mah kai ang sui, ka banpadae hoi khokkhu hoiah kai ang pathawk tahang.
11Đoạn, người đó nói cùng ta rằng: Hỡi Đa-ni-ên, là người rất được yêu quí, hãy hiểu những lời ta nói cùng ngươi, và hãy đứng thẳng lên, vì bây giờ ta đã được sai đến cùng ngươi. Khi người đã nói cùng ta lời ấy, ta đứng lên và run rẩy.
11Anih mah kai khaeah, Paroeai palung koi kaom, Aw Daniel, angdoe tahang ah loe, kang thuih ih loknawk to thaikop ah; vaihi nang khaeah kai ang patoeh boeh, tiah ang naa. Anih mah kai khaeah to tiah lok ang thuih pacoengah, kai loe tasoeh takuenhaih hoiah kang doet.
12Đoạn, người bảo ta rằng: Hỡi Đa-ni-ên, đừng sợ; vì kể từ ngày đầu mà ngươi đã chuyên lòng hiểu, hạ mình ngươi xuống trước mặt Đức Chúa Trời ngươi, thì những lời ngươi đã được nghe, và vì cớ những lời ngươi mà ta đã đến.
12To naah anih mah, Daniel, zii hmah: panoek thaihaih tawnh hanah, na Sithaw hmaa ah poek pahnaemhaih hoi lawk na thuih tangsuek niah na thuih ih lok to ang thaih pae boeh; na thuih ih loknawk pongah ni kang zoh.
13Song vua nước Phe-rơ-sơ đã ngăn trở ta trong hai mươi mốt ngày; nhưng, nầy Mi-ca-ên là một trong các quan trưởng đầu nhất, đã đến mà giúp đỡ ta, và ta ở lại đó với các vua Phe-rơ-sơ.
13Toe Persia siangpahrang khaeah ka oh naah, Persia prae ukkung angraeng mah ni pumphaeto pacoeng, nito thung kai ang pakaa: toe khenah, kai abomh hanah kalen koek toksah angraengnawk thung ih angraeng maeto ah kaom, Michael to angzoh.
14Bây giờ ta đến để bảo ngươi hiểu sự sẽ xảy đến cho dân ngươi trong những ngày sau rốt; vì sự hiện thấy nầy chỉ về nhiều ngày lâu về sau.
14Hnuksakhaih loe hmabang angzo han koi atuenawk to hnuksak pongah, nangmah ih kaminawk nuiah kaom han koi hmuen panoeksak han ih ni, vaihi nang khaeah kang zoh, tiah ang naa.
15Trong khi người nói cùng ta những lời đó, ta cúi mặt xuống đất, và làm thinh.
15To tiah lok cae ang thuih pacoengah, kai loe mikhmai long ah ka kuep, lok ka pae thai ai.
16Nầy, có đấng bộ dạng như các con trai loài người rờ đến môi ta. Ta bèn mở miệng, nói cùng đấng đứng trước mặt ta rằng: Hỡi chúa tôi, sự buồn rầu trở lại trên tôi vì cớ sự hiện thấy nầy, tôi không còn sức nữa.
16Khenah, kami capa hoi kanghmong kami maeto mah, kai ih pahni to sui, to naah ka pakha to amongh moe, lok ka thuih, Aw ka Angraeng, hnuksakhaih pongah palung ka set moe, tha ka tawn ai, tiah ka hma ah angdoe anih khaeah ka thuih.
17Thể nào đầy tớ chúa tôi nói được cùng chúa tôi? vì về phần tôi, tức thì không còn một chút sức lực nào trong tôi, và cũng không còn hơi thở trong tôi nữa!
17Kawbang maw na tamna mah ka angraeng khaeah lokthui thai tih? Tha ka tawn ai boeh, ka hinghaih takhi doeh amsah hawk boeh, tiah ka naa.
18Bấy giờ đấng có bộ dạng người nam lại rờ đến ta và khiến ta nên mạnh.
18To pacoengah kami hoi kanghmong maeto angzoh let moe, kai ang sui, anih mah kai tha ang caksak.
19Người bảo ta rằng: Hỡi người rất được yêu quí, đừng sợ hãi; nguyền cho sự bình an ở với ngươi! Hãy mạnh bạo! Phải, hãy mạnh bạo đi! Khi người đang nói cùng ta, ta lại được sức, mà nói rằng: Hỡi chúa, xin hãy nói, vì chúa đã khiến tôi nên mạnh.
19Anih mah, Aw paroeai palung koi kaom kami, zii hmah: na nuiah monghaih om nasoe! Thacaksak ah, ue, na tha caksak lai ah! tiah ang naa. Anih mah lok ang thuih pacoengah, thacakhaih ka tawnh, to naah anih khaeah, ka angraeng lok na thui ah, tha nang caksak boeh, tiah ka naa.
20Người lại nói cùng ta rằng: Ngươi có biết tại sao ta đến cùng ngươi chăng? Bây giờ ta trở về để đánh trận cùng vua của Phe-rơ-sơ, và khi ta đi, kìa, vua của Gờ-réc sẽ đến.
20To pongah anih mah, tipongah nang khaeah kang zoh, tito na panoek maw? Persia ukkung angraeng hoi misa angtuk hanah vaihi kam laem let han boeh; ka caeh pacoengah, khenah, Grik ukkung angraeng to angzo tih.
21Nhưng ta sẽ truyền bảo cho ngươi biết mọi điều đã ghi chép trong sách chân thật. Không có ai giúp ta để chống với chúng nó, ngoài Mi-ca-ên, là vua các ngươi.
21Toe loktang cabu thungah tarik ih lok to kang hnuksak han vop: na angraeng Michael khue ai ah loe, hae kaminawk misatuk hanah kai thapaek kami mi doeh om ai, tiah ang naa.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.