Sứ đồ
Chapter 4
Vietnamese Bible (1923 t…

Read in

Smith–Van Dyck Arabic Bible (فان دايك)Judson Burmese Bible (1840)Chamorro: Gospels, Acts and PsalmsChinese Union Version, punctuated (Simplified)Chinese Union Version, punctuated (Traditional)Coptic New TestamentCoptic New Testament (Bohairic)Kralice Bible (1613)Testamenta Marra (Dieri New Testament)Petrus Canisius Bible, 1939 (De Heilige Schrift)Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)Berean Standard BibleDouay-Rheims Bible, American Edition (1899)King James Version with ApocryphaWorld English BibleLondona Biblio (Esperanto, 1910)Louis Segond 1910Lutherbibel 1912Greek New Testament, word by word (STEPBible TAGNT)Greek New Testament: 1904 Patriarchal Text (Byzantine)Greek New Testament: Byzantine Text (Robinson–Pierpont 2018)Greek New Testament: Textus ReceptusSBL Greek New TestamentBaibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)Modern Hebrew BibleDiodati Bibbia 1885Freedom Bible (フリーダム・バイブル)Korean Bible, 1910 (한국어 성경)Bible Mutal (Kosraean)Clementine Vulgate, 1598Baibal Olcim (Matupi Chin)Old Persian Version (ترجمه قدیم)Kadede Kap (Pohnpeian New Testament and Psalms)Bíblia Portuguesa Mundial (Brazilian Portuguese)Cornilescu Bible (1924), Cyrillic scriptSynodal Translation (Синодальный перевод)Daničić–Karadžić Bible (1868), CyrillicReina-Valera 1909Biblia Takatifu (Swahili): New Testament portionsFreedom Bible (Thai)Tongan Bible, Revised West VersionKulish and Puluj Bible (1905)Vietnamese Bible (1923 translation)
vs Asang Khongca Bibl…

Compare with

Aa
Text size
Line width
Verse numbers
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Phi-e-rơ và Giăng đang nói với dân chúng, thì các thầy tế lễ, quan coi đền thờ, và người Sa-đu-sê thoạt đến,
1Nihnik mah kaminawk khaeah lokthuih hoi li naah, qaimanawk, tempul thungah toksah kaminawk hoi Sadusinawk nihcae khaeah angzoh o,
2tức mình vì hai người dạy dân chúng và rao truyền, nhân Đức Chúa Jêsus, sự từ kẻ chết sống lại.
2patoeh ih kami hnik mah kaminawk to patuk hoi moe, duekhaih thung hoi kangthawk let Jesu kawng to thuih hoi pongah, nihcae loe palungphui o.
3Họ bắt hai người giam vào ngục cho đến bữa sau, vì bấy giờ đã tối rồi.
3Nihcae mah patoeh ih kami hnik to naeh o, niduem boeh pongah, nihnik to khawnbang karoek to thongim pakhrak o.
4Dầu vậy, có nhiều người đã nghe đạo thì tin, số tín đồ lên đến độ năm ngàn.
4To tiah oh langlacadoeh, lok thaih pop parai kaminawk mah tanghaih to tawnh o; to naah tang kaminawk sang pangato phak o.
5Bữa sau, các quan, các trưởng lão, các thầy thông giáo nhóm tại thành Giê-ru-sa-lem,
5Khawnbang phak naah loe, ukkungnawk, kacoehtanawk hoi ca tarik kaminawk,
6với An-ne, là thầy cả thượng phẩm, Cai phe, Giăng, A-léc-xan-đơ và hết thảy mọi người thuộc về họ thầy cả thượng phẩm.
6kalen koek qaima Anna, Kaiapha, Johan, Alexander hoi kalen koek qaima ih imthung takoh boih Jerusalem ah amkhueng o.
7Họ bắt Phi-e-rơ và Giăng đến hầu trước mặt mình, và hỏi rằng: Bởi quyền phép nào hay là nhân danh ai mà các ngươi làm điều nầy?
7Nihnik to kaminawk salakah suek o moe, Naa ih sakthaihaih hoiah maw, to tih ai boeh loe mi ih ahmin hoiah maw hae hmuen hae na sak hoi? tiah lok a dueng o.
8Bấy giờ Phi-e-rơ, đầy dẫy Đức Thánh Linh, nói rằng: Hỡi các quan và các trưởng lão,
8Piter loe Kacai Muithla hoiah koi moe, nihcae khaeah, Nangcae kami ukkungnawk hoi Israel kacoehtanawk,
9nếu ngày nay chúng tôi bị tra hỏi vì đã làm phước cho một người tàn tật, lại hỏi chúng tôi thể nào người đó được lành,
9vai hniah tha kahnaem kami maeto nuiah kahoih hmuen sak pongah kawbangah maw ngan a tui, tiah lokdueng han ih nang kawk o nahaeloe;
10thì hết thảy các ông, và cả dân Y-sơ-ra-ên đều khá biết, ấy là nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ ở Na-xa-rét, Đấng mà các ông đã đóng đinh trên thập tự giá, và Đức Chúa Trời đã khiến từ kẻ chết sống lại, ấy là nhờ Ngài mà người nầy được lành mạnh hiện đứng trước mặt các ông.
10nangcae hoi Israel kaminawk boih mah, hae hmuen hae panoek o ah, thinglam pongah na takhing o boeh, toe Sithaw mah duekhaih thung hoiah pathawk let ih, Nazareth Jesu Kri rang hoiah ni nangcae hma ah angdoe hae kami hae ngan a tui.
11Jêsus nầy là hòn đá bị các ông xây nhà bỏ ra, rồi trở nên hòn đá góc nhà.
11Hae loe nangcae imsah kaminawk mah na pahnawt o sut ih thlung ah oh, to thlung loe kahoih koek im takii ih thlung ah angcoeng boeh.
12Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.
12Kalah pahlonghaih roe om ai: van tlim ah kaom kaminawk thungah aicae pahlong thaih ahmin kalah tidoeh om ai, tiah a naa.
13Khi chúng thấy sự dạn dĩ của Phi-e-rơ và Giăng, biết rõ rằng ấy là người dốt nát không học, thì đều lấy làm lạ; lại nhận biết hai người từng ở với Đức Chúa Jêsus.
13Piter hoi Johan loe ca amtuk ai kami, kami rumram ni, tito nihcae mah panoek o moe, nihnik ih misahoihaih to hnuk o naah, nihcae loe dawnrai o; toe nihcae mah hae kami hnik loe Jesu hoi nawnto kaom kami ni, tito panoek o.
14Nhưng vì thấy người được chữa lành đứng bên hai người, nên chúng không có lời gì để bẻ bác được hết.
14Nihnik hoi nawnto angdoe ngantui kami to doeh a hnuk o, toe anih hanah loe kawbangah doeh naa o ai.
15Chúng biểu hai người ra khỏi tòa công luận rồi, bèn bàn luận cùng nhau,
15Toe nihnik to lokcaekhaih ahmuen hoiah tacawtsak pacoengah, angmacae hoi angmacae lok angdueng o,
16rằng: Chúng ta xử với hai người nầy làm sao? Vì cả dân thành Giê-ru-sa-lem đều biết rõ thật họ đã làm ra một phép lạ sờ sờ; chúng ta chối không nổi.
16hae kami hnik hae kawbangmaw a sak o han? Nihnik mah sak ih dawnrai hmuen loe Jerusalem ah kaom kaminawk boih mah hnuk o boeh, to pongah aicae mah aek thai mak ai boeh.
17Dầu vậy, hầu cho việc khỏi đồn ra trong dân nữa, chúng ta nên lấy lời ngăm dọa, cấm họ, từ rày về sau, chớ lấy danh đó dạy dỗ không cứ là ai.
17Kaminawk salakah amthang let han ai hoi hae kami ih ahmin hoiah mi khaeah doeh lok a thuih hoi han ai ah, nihnik to pazih si, tiah a thuih o.
18Họ bèn đòi hai người vào, rồi cấm tiệt, chẳng cho nhân danh Đức Chúa Jêsus mà nói hay là dạy.
18To pongah nihnik to a kawk o moe, Jesu ih ahmin hoiah patuk moe, lok roe thuih han ai ah lokthuih pae o.
19Nhưng Phi-e-rơ và Giăng trả lời rằng: Chính các ông hãy suy xét, trước mặt Đức Chúa Trời có nên vâng lời các ông hơn là vâng lời Đức Chúa Trời chăng?
19Piter hoi Johan mah nihcae khaeah, Sithaw mikhnuk ah Sithaw ih lok tahngaih pongah nangcae ih lok tahngaih han hoih kue maw, hoih kue ai tito nangmacae mah lok takroek oh.
20Vì, về phần chúng tôi, không có thể chẳng nói về những điều mình đã thấy và nghe.
20Kaihnik loe ka hnuk hoi moe, ka thaih hoi ih hmuen to thui ai ah kaom hoi thai ai, tiah a naa hoi.
21Vậy, họ lại ngăm dọa hai người nữa, rồi tha ra, không tìm phương bắt tội, vì cớ dân chúng, bởi ai nấy đều ngợi khen Đức Chúa Trời về việc đã xảy ra.
21To tiah a sak hoi ih hmuen pongah, kaminawk boih mah Sithaw ih ahmin to pakoeh o pongah, nihnik to danpaek o thai ai, to pongah nihcae mah nihnik to pazih o pacoengah, prawt o let,
22Vả, người đã nhờ phép lạ cho được chữa bịnh đó, là người đã hơn bốn mươi tuổi.
22dawnrai koi kaom ah ngantuisak ih kami loe saning quipalito ranuih ah oh boeh.
23Khi chúng đã tha ra, hai người đến cùng anh em mình, thuật lại mọi điều các thầy tế lễ cả và các trưởng lão đã nói.
23Nihnik loih hoi pacoengah angmacae ampuinawk khaeah caeh hoi moe, kalen koek qaima hoi kacoehtanawk mah nihnik khaeah thuih ih loknawk to thuih pae hoi boih.
24Mọi người nghe đoạn, thì một lòng cất tiếng lên cầu Đức Chúa Trời rằng: Lạy Chúa, là Đấng dựng nên trời, đất, biển, cùng muôn vật trong đó,
24To loknawk to a thaih o naah, poek maeto hoiah Sithaw khaeah, Angraeng, nang loe van, long, tuipui hoi a thungah kaom hmuennawk boih sahkung Sithaw ah na oh, tiah hangh o:
25và đã dùng Đức Thánh Linh, phán bởi miệng tổ phụ chúng tôi, tức là đầy tớ Ngài, là vua Đa-vít, rằng: Vì sao các dân nổi giận, Lại vì sao các nước lập mưu vô ích?
25na tamna David ih pakha hoiah, Tipongah maw Sithaw panoek ai kaminawk loe palungphui o moe, kaminawk mah avang ai hmuennawk to poek o?
26Các vua trên mặt đất dấy lên, Các quan hiệp lại, Mà nghịch cùng Chúa và Đấng chịu xức dầu của Ngài...
26Long siangpahrangnawk loe angdoet o, ukkungnawk loe nawnto amkhueng o moe, Angraeng hoi Anih ih Kri to misa ah suek o, tiah lok na thuih.
27Vả, Hê-rốt và Bôn-xơ Phi-lát, với các dân ngoại, cùng dân Y-sơ-ra-ên thật đã nhóm họp tại thành nầy đặng nghịch cùng Đầy tớ thánh Ngài là Đức Chúa Jêsus mà Ngài đã xức dầu cho,
27Tangtang ni, Herod, Pilat, Gentelnawk hoi Israelnawk mah situi na bawh ih, ciimcai nawkta Jesu to koeh o ai,
28để làm mọi việc tay Ngài và ý Ngài đã định trước.
28canghnii hoi lok na takroek tangcae baktih toengah, na koehhaih to a sak o hanah, nihcae loe nawnto amkhueng o.
29Nầy, xin Chúa xem xét sự họ ngăm dọa, và ban cho các đầy tớ Ngài rao giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ,
29Angraeng, vaihi nihcae mah pazih ih loknawk to poek ah loe, misahoihaih boih hoiah na lok to a thuih o thai hanah, na tamnanawk to abom ah,
30giơ tay Ngài ra, để nhờ danh Đầy tớ thánh của Ngài là Đức Chúa Jêsus, mà làm những phép chữa lành bịnh, phép lạ và dấu kỳ.
30nangmah ih kaciim nawkta Jesu ih ahmin hoiah, ngantuihaih, angmathaih hoi dawnrai hmuennawk sak hanah, na ban to payueng ah, tiah lawk a thuih o.
31Khi đã cầu nguyện, thì nơi nhóm lại rúng động; ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách dạn dĩ.
31Nihcae mah lawkthuih o naah, nihcae nawnto amkhuenghaih ahmuen to anghuen; nihcae loe Kacai Muithla hoiah koi o boih moe, Sithaw lok to misahoihaih hoiah a thuih o.
32Vả, người tin theo đông lắm, cứ một lòng một ý cùng nhau. Chẳng ai kể của mình là của riêng; nhưng kể mọi vật là của chung cho nhau.
32Tanghaih tawn paroeai kaminawk loe, poekhaih palung maeto ah amhong o: mi mah doeh a tawnh ih hmuen to angmah ih hmuen ah poek o ai; nihcae loe hmuen to nawnto patoh angbomh o boih.
33Các sứ đồ lại lấy quyền phép rất lớn mà làm chứng về sự sống lại của Đức Chúa Jêsus Christ; và hết thảy đều được phước lớn.
33Patoeh ih kaminawk mah kalen thacakhaih hoiah Angraeng Jesu angthawk lethaih hnukung ah ohhaih kawng to taphong o, nihcae nui boih ah kalen parai tahmenhaih to oh.
34Vì trong tín đồ không ai thiếu thốn cả, bởi những người có ruộng hay nhà, đều bán đi, bán được bao nhiêu tiền cũng đem đến
34Nihcae thungah kavawt kami mi doeh om ai: long hoi im tawn kaminawk loe long hoi im to zawh o moe, a zawh o ih hmuenmae tho to a sin o,
35đặt dưới chân các sứ đồ; rồi tùy theo sự cần dùng của mỗi người mà phát cho.
35patoeh kaminawk ih khokkung ah a suek o moe, angaih kaminawk hanah pazet o.
36Vậy có Giô-sép mà các sứ đồ đặt tên là Ba-na-ba, nghĩa là con trai của sự yên ủi, về họ Lê-vi, quê hương tại Chíp-rơ,
36Cyprus prae ih Levi kami Jose, patoeh ih kaminawk mah loe anih to Barnaba (pathloep ah kaom capa, tiah thuih koehhaih ih ni) tiah kawk o, anih mah,
37có một đám ruộng, bán đi, đem tiền đặt nơi chân các sứ đồ.
37a tawnh ih long to zawh moe, tangka to patoeh ih kaminawk khokkung ah sinh.

Tip: use the ← and → keys to turn chapters.