Sứ đồ 24
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Asang Khongca Bible (Eastern Khumi Chin, 2019)
1Sau đó năm ngày, có thầy cả thượng phẩm là A-na-nia đến, với vài người trưởng lão cùng một nhà diễn thuyết kia tên là Tẹt-tu-lu, trình đơn kiện Phao-lô trước mặt quan tổng đốc.
1Ni pangato oh pacoengah kalen koek qaima Ananias loe kacoehta thoemto kaminawk, lokthui kop Tertullus hoi nawnto angzoh moe, prae ukkung hma ah Pawl to zaehaih net o.
2Phao-lô bị đòi đến rồi, Tẹt-tu-lu khởi sự cáo người như vầy:
2Pawl to a thungah kawk o naah, Tertulla mah Filix hma ah Pawl kawng to thuih pae, na ukhaih thungah kamongta ah ka oh o, hae kaminawk mah kahoih na khokhanhaih to hnuk o,
3Bẩm quan lớn Phê-lít, nhờ ơn quan mà chúng tôi được hưởng sự bình an trọn vẹn, và nhờ sự khôn ngoan của quan đổi được mọi tình tệ để giúp dân nầy, lúc nào và nơi nào chúng tôi cũng rất cảm tạ biết ơn quan vậy.
3kahoih koek Filix, na hoihhaih to ahmuen kruekah kawnhaih hoiah ka talawk o poe.
4Nhưng muốn cho khỏi phiền quan lâu hơn, thì tôi xin quan lấy lòng khoan nhân mà nghe một vài lời chúng tôi nói đây.
4Toe tahngaih nang paqak pae han ai ah kang thuih o ih lok zetta hae, nang tahngaih pae thai hanah tahmenhaih kang hnik.
5Vậy, chúng tôi đã gặp người nầy, như là đồ ôn dịch, đã gây loạn trong hết thảy người Giu-đa trên cả thế giới: nó làm đầu của phe người Na-xa-rét,
5Anih loe Nazareth bokhaih abu maeto zaehoikung ah oh moe, long pum ah kaom Judahnawk poekhaih amkhraeng hanah sahkung, hae kahoih ai kami hae ka hnuk o boeh:
6cũng đã toan làm ô uế đền thờ, nên chúng tôi đã bắt nó và chúng tôi có muốn xử nó theo luật pháp chúng tôi.
6hae kami loe tempul amhnongsak kami ah oh: anih hae ka naeh o moe, kaimacae ih daan baktiah lokcaek han ka koeh o.
7Nhưng quản cơ Ly-sia đến, bắt nó khỏi tay chúng tôi cách hung bạo,
7Toe misatuh angraeng Lysia to kaicae khaeah angzoh moe, tha patohhaih hoiah kaicae ban thung hoi anih to lak ving,
8truyền lịnh cho các người kiện nó hãy đến hầu quan. Xin chính quan hãy tự tra hỏi hắn, thì sẽ biết được mọi việc chúng tôi đang kiện cáo.
8anih zae net kaminawk nang khaeah caeh o hanah a thuih pae; anih lok na caek naah, anih han ka net o ih hmuennawk to na panoek boih tih hmang, tiah a naa.
9Đến phiên các người Giu-đa cũng hùa theo lời đó, quyết rằng thật có như vậy.
9Judah kaminawk mah doeh hae hmuennawk hae amsoem, tiah angdoet o haih.
10Quan tổng đốc ra dấu biểu Phao-lô nói đi, thì người thưa rằng: Tôi biết quan làm quan án trong nước nầy đã lâu năm, nên tôi dạn dĩ mà binh vực duyên cớ mình.
10Prae ukkung mah lokthuih hanah Pawl to angmathaih paek naah, Pawl mah, Saning paroeai thung hae prae ukkung ah na oh, tito ka panoek, to pongah oephaih hoiah kaimah angvaenghaih lok ka thuih han:
11Quan tra xét thì sẽ biết tôi vừa lên thành Giê-ru-sa-lem mà thờ lạy, chưa được mười hai ngày nay.
11Sithaw bok hanah Jerusalem ah ka caehhaih ni loe hatlai hnetto mataeng doeh akoep ai vop, tito na panoek tih.
12Người ta chẳng từng gặp tôi, hoặc trong đền thờ, hoặc trong nhà hội, hoặc trong thành phố, cãi lẫy cùng ai hay xui dân làm loạn bao giờ.
12Kai loe sineko thungah maw, vangpui thungah maw, amkhueng kaminawk hoiah maw lok angaek, tito kai hnukung nihcae thungah om ai:
13Bây giờ họ cũng chẳng biết lấy chi mà làm chứng cớ về điều họ kiện tôi đó.
13kai zae ang net o haih hmuennawk doeh nihcae mah amtueng o sak thai ai.
14Trước mặt quan, tôi nhận rằng theo như đạo mà họ gọi là một phe đảng, tôi thờ phượng Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tin mọi điều chép trong sách luật và các sách tiên tri;
14Kai loe kam panawk ih Sithaw bok kami ah ka oh, toe nihcae mah loe kamsoem ai bokhaih ni, tiah a thuih o, tito na hma ah amtuengsak han ka koeh, kaalok Cabu hoi tahmaanawk mah tarik ih Cabu thungah kaom hmuennawk boih tang kami ah ka oh.
15và tôi có sự trông cậy nầy nơi Đức Chúa Trời, như chính họ cũng có vậy, tức là sẽ có sự sống lại của người công bình và không công bình.
15Katoeng hoi katoeng ai kaminawk angthawk lethaih to om tih, tiah nihcae mah tang o baktih toengah, Sithaw ah oephaih tawn kami ah ka oh toeng.
16Cũng vì cớ ấy, nên tôi vẫn gắng sức cho có lương tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người.
16To pongah poekciim moe, Sithaw hoi kaminawk koeh ai ih hmuen sak han ai ah, tha pathok toepsoep kami ah ka oh.
17Vả, đã lâu năm nay tôi đi vắng, rồi mới về bố thí cho bổn quốc tôi và dâng của lễ.
17Saning paroeai laemh pacoengah, amtang kaminawk abomhaih hmuen hoi Sithaw khae tathlang ih hmuennawk to kaimah ih kaminawk paek hanah, Jerusalem vangpui ah ka caeh.
18Đang khi ấy, có mấy người Giu-đa quê ở cõi A-si kia gặp tôi ở trong đền thờ, được tinh sạch, chớ chẳng có dân đông hay rối loạn chi.
18Kami amkhuenghaih om ai, lok angaekhaih doeh om ai ah, tempul thungah ciimcaihaih ka sak naah, Asia prae thungah kaom Judahnawk mah kai ang hnuk o.
19Nếu họ có điều gì kiện tôi, thì có lẽ đến hầu trước mặt quan mà cáo đi.
19To Judahnawk mah kai zae net han koeh o nahaeloe, hae ah na hma ah angzoh o han oh.
20Hay là các người ở đây phải nói cho biết đã thấy tôi có sự gì đáng tội, lúc tôi đứng tại tòa công luận,
20To tih ai boeh loe lokcaekhaih hma ah kang doet naah, ka sakpazaehaih hnu o nahaeloe, haeah kaom kaminawk mah thuih o han oh,
21hoặc có, thì cũng chỉ trách câu tôi nói giữa họ rằng: Aáy vì sự sống lại của kẻ chết mà hôm nay tôi bị xử đoán trước mặt các ông.
21kadueh kami angthawk lethaih om tih, tiah ka thuih pongah ni, vaihi na hma ah lokcaekhaih ka tongh, tiah lokcaekhaih ahmuen ah ka thuih ih lok khue ni, nihcae mah kai zaehaih net o thai tih, tiah a naa.
22Phê-lít vẫn biết rõ ràng về đạo người nói đó, nên giãn việc kiện ra, mà rằng: khi nào quan quản cơ Ly-sia xuống, ta sẽ xét việc nầy.
22Filix mah hae lok to thaih naah, to loklam to kahoihah panoek pongah misatuh angraeng Lysia angzoh naah, nang kawng hae ka thuih han, tiah a naa moe, atue to pathuih pae.
23Đoạn, người truyền cho thầy đội giữ Phao-lô, nhưng phải cho người hơi được thong thả, có kẻ nào thuộc về người đến hầu việc người, thì đừng cấm.
23Misatuh cumvaito ukkung khaeah, Pawl to thongim pakhrah ai ah, kamhoe ah ohsak, anih khae paqai angmah ih ampuinawk mah caaknaek paek o naah, pakaa pae han ai ah lok a paek.
24Qua mấy ngày sau, Phê-lít với vợ mình là Đơ-ru-si, người Giu-đa, đến, rồi sai gọi Phao-lô, và nghe người nói về đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ.
24Ni nazetto maw akra pacoengah, Filix loe Judah kami ah kaom, a zu Drusilla hoi nawnto angzoh, Pawl to kawksak pacoengah, Jesu Kri tanghaih kawng to a thuihsak, a thuih ih lok to anih mah tahngaih pae.
25Nhưng khi Phao-lô nói về sự công bình, sự tiết độ và sự phán xét ngày sau, thì Phê-lít run sợ, nói rằng: Bây giờ ngươi hãy lui; đợi khi nào ta rảnh, sẽ gọi lại.
25Pawl mah toenghaih, angsumhaih hoi angzo han koi lokcaekhaih kawng to thuih pae naah, Filix loe zit moe, vaihi loe hae zetto mah rae soe, caeh rae ah, atue kahoih ka hnuk naah, kang kawk let han hmang, tiah a naa.
26Phê-lít cũng trông Phao-lô lót bạc cho mình; nên năng đòi người đến, và nói chuyện cùng người.
26Pawl mah loih thai hanah phoisa na paek tih, tiah a poek pongah, Pawl to kawk moe, lok apaeh haih toepsoep.
27Khỏi hai năm, Bốt-tiu Phê-tu đến thay Phê-lít. Bởi cớ Phê-lít muốn làm cho dân Giu-đa bằng lòng, bèn cứ giam Phao-lô nơi ngục.
27Toe saning hnetto akoep pacoengah loe, Filix ih ahmuen to Porcius Festa mah lak: toe Filix loe Judah kaminawk palung tonghsak han koeh pongah, Paul to thongim ah pakhrak.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.