Sứ đồ 24
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Sau đó năm ngày, có thầy cả thượng phẩm là A-na-nia đến, với vài người trưởng lão cùng một nhà diễn thuyết kia tên là Tẹt-tu-lu, trình đơn kiện Phao-lô trước mặt quan tổng đốc.
1A HALA na la elima, iho ae la o Anania, ke kahuna nui, a me na lunakahiko, a me kekahi loio, o Teretulo, hoopii mai la lakou ia Paulo i ke alii kiaaina.
2Phao-lô bị đòi đến rồi, Tẹt-tu-lu khởi sự cáo người như vầy:
2Kiiia'ku la ia, hoomaka iho la o Teretulo e hoopii ia ia, i ae la, Ua malu loa makou ia oe, ua nui loa no hoi na mea kaulana i loaa mai i keia aina i kou malama ana,
3Bẩm quan lớn Phê-lít, nhờ ơn quan mà chúng tôi được hưởng sự bình an trọn vẹn, và nhờ sự khôn ngoan của quan đổi được mọi tình tệ để giúp dân nầy, lúc nào và nơi nào chúng tôi cũng rất cảm tạ biết ơn quan vậy.
3E Pelika kiekie, ke lawe maikai nei makou ia mau mea, ma na wahi a pau loa, me ke aloha nui aku:
4Nhưng muốn cho khỏi phiền quan lâu hơn, thì tôi xin quan lấy lòng khoan nhân mà nghe một vài lời chúng tôi nói đây.
4Aka, o hooluhi aku au ia oe, ke nonoi aku nei au ia oe, i kou lokomaikai, e hoolohe iki mai ia makou.
5Vậy, chúng tôi đã gặp người nầy, như là đồ ôn dịch, đã gây loạn trong hết thảy người Giu-đa trên cả thế giới: nó làm đầu của phe người Na-xa-rét,
5No ka mea, ua ike makou i keia kanaka, ua kolohe, he kanaka hooeueu ana o ke ku e mawaena o na Iadaio a pau ma na aina a pau, oia no hoi kekahi kumu nui o ka papa Nazarene.
6cũng đã toan làm ô uế đền thờ, nên chúng tôi đã bắt nó và chúng tôi có muốn xử nó theo luật pháp chúng tôi.
6Ua hoao ae la ia e hoohaumia i ka luakini; na makou ia i hopu iho, a makemake iho la makou e hookolokolo e like me ko makou kanawai.
7Nhưng quản cơ Ly-sia đến, bắt nó khỏi tay chúng tôi cách hung bạo,
7Aka, hele mai la o Lusia, ka lunatausani, a kai aku la ia ia me ka ikaika nui, mailoko aku o ko makou mau lima,
8truyền lịnh cho các người kiện nó hãy đến hầu quan. Xin chính quan hãy tự tra hỏi hắn, thì sẽ biết được mọi việc chúng tôi đang kiện cáo.
8Kena mai no hoi ia i ka poe nana ia i hoopii e hele mai iou nei. A ina hookolokolo oe, e ike auanei oe i ka oiaio o keia mau mea a pau a makou e hoopii aku nei nona.
9Đến phiên các người Giu-đa cũng hùa theo lời đó, quyết rằng thật có như vậy.
9Ae mai la na Iudaio, i mai la, Oiaio no keia mau mea.
10Quan tổng đốc ra dấu biểu Phao-lô nói đi, thì người thưa rằng: Tôi biết quan làm quan án trong nước nầy đã lâu năm, nên tôi dạn dĩ mà binh vực duyên cớ mình.
10Kunou ae la ke alii ia Paulo e olelo mai, alaila i mai la ia. No kuu ike ana, he nui na makahiki ia oe, i lunakanawai no ko keia aina, no ia mea, ua oluolu loa wau e olelo aku i na mea no'u iho.
11Quan tra xét thì sẽ biết tôi vừa lên thành Giê-ru-sa-lem mà thờ lạy, chưa được mười hai ngày nay.
11E hiki no ia oe ke hoomaopopo, he umi ae nei la wale no i hala, a me kumamalua, mai ko'u pii ana aku i Ierusalema e hoomana.
12Người ta chẳng từng gặp tôi, hoặc trong đền thờ, hoặc trong nhà hội, hoặc trong thành phố, cãi lẫy cùng ai hay xui dân làm loạn bao giờ.
12Aole hoi au i loaa ia lakou maloko o ka luakini, e hoopaapaa ana me kekahi, aole hoi e hoohaunaele ana i ke lehulehu, aole maloko o na halehalawai, aole hoi maloko o ke kulanakauhale;
13Bây giờ họ cũng chẳng biết lấy chi mà làm chứng cớ về điều họ kiện tôi đó.
13Aole hoi e hiki ia lakou ano ke hooiaio i na mea a lakou e hoopii mai nei ia'u.
14Trước mặt quan, tôi nhận rằng theo như đạo mà họ gọi là một phe đảng, tôi thờ phượng Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi, tin mọi điều chép trong sách luật và các sách tiên tri;
14Aka, ke hai pono aku nei au ia oe i keia, ma ka aoao i oleloia'i e lakou, he aoao ku e, pela no wau e hoomana aku nei i ke Akua o ko'u mau kupuna, e manaoio ana aku i na mea a pau i kakauia'i ma ke kanawai, a ma ka na kaula.
15và tôi có sự trông cậy nầy nơi Đức Chúa Trời, như chính họ cũng có vậy, tức là sẽ có sự sống lại của người công bình và không công bình.
15Ke lana nei ko'u manao i ke Akua, ua ae mai no hoi lakou i keia, i ke alahouana o ka poe make, o ka poe pono a me ka poe pono ole.
16Cũng vì cớ ấy, nên tôi vẫn gắng sức cho có lương tâm không trách móc trước mặt Đức Chúa Trời và trước mặt loài người.
16Malaila no hoi au e hooikaika nei e loaa mau ka lunaikehala hewa ole imua o ke Akua a me na kanaka.
17Vả, đã lâu năm nay tôi đi vắng, rồi mới về bố thí cho bổn quốc tôi và dâng của lễ.
17A hala na makahiki he nui, hele aku la au e lawe i ka waiwai manawalea, a me na mohai, no na kanaka o ko'u aina.
18Đang khi ấy, có mấy người Giu-đa quê ở cõi A-si kia gặp tôi ở trong đền thờ, được tinh sạch, chớ chẳng có dân đông hay rối loạn chi.
18Loaa iho la au maloko o ka luakini i kekahi mau Iudaio, mai Asia mai, ua huikalaia, aole me ka lehulehu, aole hoi me ka hoohaunaele.
19Nếu họ có điều gì kiện tôi, thì có lẽ đến hầu trước mặt quan mà cáo đi.
19Ina i loaa ia lakou kekahi hewa no'u, e hoopii mai ai, ina ua pono o lakou kekahi pu mai imua ou.
20Hay là các người ở đây phải nói cho biết đã thấy tôi có sự gì đáng tội, lúc tôi đứng tại tòa công luận,
20E pono no hoi ia lakou nei ke olelo mai, ina paha ua loaa ia lakou ko'u hewa, ia'u i ku ai imua o ka ahalunakanawai;
21hoặc có, thì cũng chỉ trách câu tôi nói giữa họ rằng: Aáy vì sự sống lại của kẻ chết mà hôm nay tôi bị xử đoán trước mặt các ông.
21No keia leo hookahi wale no a'u i hea aku ai, i ko'u ku ana iwaena o lakou. No ke alahouana o ka poe make, oia ko'u mea i hookolokoloia mai ai imua o oukou i keia la.
22Phê-lít vẫn biết rõ ràng về đạo người nói đó, nên giãn việc kiện ra, mà rằng: khi nào quan quản cơ Ly-sia xuống, ta sẽ xét việc nầy.
22A lohe o Pelika i keia, hoopanee aku ia lakou a ike maopopo aku la oia i na mea o keia aoao, i ae la, A iho mai o Lusia, ka lunatausani, alaila, e hoomaopopo lea au i ka oukou.
23Đoạn, người truyền cho thầy đội giữ Phao-lô, nhưng phải cho người hơi được thong thả, có kẻ nào thuộc về người đến hầu việc người, thì đừng cấm.
23Alaila, olelo aku la ia i ka lunahaneri e malama ia Paulo, aole hoi e paa maoli, aole e papa aku i kekahi o kona mau makamaka, ke lawelawe nana, a e hele mai hoi ia ia.
24Qua mấy ngày sau, Phê-lít với vợ mình là Đơ-ru-si, người Giu-đa, đến, rồi sai gọi Phao-lô, và nghe người nói về đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ.
24A hala kekahi mau la, hiki mai la o Pelika me kana wahine, o Derausila, he Iudaio no ia, kii aku la kela ia Paulo, hoolohe aku la ia ia no ka manaoio iloko o Kristo.
25Nhưng khi Phao-lô nói về sự công bình, sự tiết độ và sự phán xét ngày sau, thì Phê-lít run sợ, nói rằng: Bây giờ ngươi hãy lui; đợi khi nào ta rảnh, sẽ gọi lại.
25A i kana kamailio ana no ka pono, a me ka pakiko, a me ka hookolokoloia e hiki mai ana mahope, haalulu iho la o Pelika, i aku la, O hoi oe i keia wa; a loaa ia'u ka manawa kaawale, e kii hou aku no au ia oe.
26Phê-lít cũng trông Phao-lô lót bạc cho mình; nên năng đòi người đến, và nói chuyện cùng người.
26E manaolana ana hoi ia e haawiia mai e Paulo na kala nana, i weheia'ku ai ia e ia. No ia mea, kii pinepine aku la oia ia ia, i kamakamailio laua.
27Khỏi hai năm, Bốt-tiu Phê-tu đến thay Phê-lít. Bởi cớ Phê-lít muốn làm cho dân Giu-đa bằng lòng, bèn cứ giam Phao-lô nơi ngục.
27A hala ae la na makahiki elua, hiki ae la ma ko Pelika hakahaka, o Porekio Peseto, a waiho iho la o Pelika ia Paulo e paa ana, no kona makemake e hooluolu i na Iudaio.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.