Sứ đồ 5
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Nhưng có một người tên là A-na-nia, thuận với vợ là Sa-phi-ra, bán gia sản mình,
1O KEKAHI kanaka, o Anania ka inoa, me Sapeire kana wahine, kuai lilo aku la i ka aina.
2và đồng mưu với vợ, giữ lại một phần tiền giá bán; rồi mới đem phần còn lại đặt dưới chân các sứ đồ.
2A hoana e iho la ia i kauwahi o ka uku, ua ike no hoi kana wahine, a lawe mai la i kekahi, a waiho iho la ma na wawae o ka poe lunaolelo.
3Phi-e-rơ bèn nói với người rằng: Hỡi A-na-nia, sao quỉ Sa-tan đã đầy dẫy lòng ngươi, đến nỗi ngươi nói dối cùng Đức Thánh Linh, mà bớt lại một phần giá ruộng đó?
3I aku la o Petero, E Anania, no ke aha la i hoopiha mai ai o Satana i kou naau e wahahee aku i ka Uhane Hemolele, a e hoana e i kekahi mea i loaa mai ai no ka aina?
4Nếu ngươi chưa bán ruộng đó, há chẳng phải là của ngươi sao? Khi bán rồi, giữ giá đó há chẳng được sao? Điều đó nhập vào lòng ngươi thế nào? Aáy chẳng phải ngươi nói dối loài người, bèn là nói dối Đức Chúa Trời.
4I ka wa e waiho wale ana, aole anei nou ponoi ia? a pau i ke kuaiia, aole anei ia oe ka malama? No ke aha la i komo ai keia mea maloko o kou naau? Aole oe i wahahee aku i kanaka, i ke Akua no.
5A-na-nia nghe nói bấy nhiêu lời, thì ngã xuống và tắt hơi; phàm người nào hay điều đó đều sợ hãi quá đỗi.
5A lohe iho la o Anania i keia olelo, hina iho la ia ilalo, a lele ae la ke aho. Kau iho la ka makau nui maluna iho o ka poe a pau i lohe i keia mau mea.
6Nhưng các gã trẻ tuổi đứng dậy khâm liệm thây người và đem đi chôn.
6Ku ae la na kanaka ui, wahi iho la ia ia, lawe aku la iwaho, a kanu iho la.
7Khỏi đó độ ba giờ, vợ người bước vào, vốn chưa hề biết việc mới xảy đến.
7A mahope iho ekolu paha hora, komo mai la kana wahine, me ka ike ole i ka mea i hanaia'i.
8Phi-e-rơ cất tiếng nói rằng: Hãy khai cho ta, ngươi đã bán đám ruộng giá có ngằn ấy phải không? Thưa rằng: Phải, giá ngằn ấy đó.
8I aku la o Petero ia ia, E hai mai oe ia'u, ua kuai anei olua i ka aina pela? I mai la kela, Ae, pela no.
9Phi-e-rơ bèn nói rằng: Sao các ngươi dám đồng mưu để thử Thánh Linh của Chúa? Kìa, chân những kẻ chôn chồng ngươi đang ở ngoài cửa, họ sẽ đem ngươi đi luôn.
9Alaila, i aku la o Petero ia ia, Pehea la i hui pu ai ko olua manao, e hoao aku i ka Uhane o ka Haku? aia hoi ma ka ipuka na wawae o ka poe nana i kanu kau kane; e lawe aku no hoi lakou ia oe iho.
10Chính lúc đó, nàng té xuống nơi chân Phi-e-rơ và tắt hơi. Các gã tuổi trẻ trở về, thấy nàng đã chết, bèn khiêng đi chôn bên chồng nàng.
10Alaila, hina iho la ia ma kona mau wawae, a lele aku la ke aho; a komo mai la ua poe ui la, a loaa iho la ia ua make, a lawe aku la lakou ia ia, a kanu aku la ma kahi o kana kane.
11Cả Hội thánh đều rất sợ hãi, cho đến người nào nghe tin cũng vậy.
11A kau mai ka makau nui maluna o ka ekalesia a pau, a me ka poe a pau i lohe i keia mau mea.
12Bấy giờ, có nhiều phép lạ dấu kỳ được làm ra trong dân bởi tay các sứ đồ; và các môn đồ đều hiệp một lòng nhóm nhau dưới hiên cửa Sa-lô-môn.
12Ua hanaia no hoi mawaena o kanaka, na hoailona a me na mea kupanaha he nui loa, e na lima o ka poe lunaolelo. (Lokahi ae la lakou a pau ma ka lanai o Solomona.
13Dầu vậy, chẳng một kẻ nào khác dám nhập bọn với môn đồ, nhưng dân chúng thì cả tiếng ngợi khen.
13Auhe mea o ka poe i koe i makau ole ke hui pu mai me lakou; aka, mahalo aku la kanaka ia lakou.
14Số những người tin Chúa cùng ngày càng thêm lên, nam nữ đều đông lắm,
14Hui pu nui ia'e la i ka Haku ka poe i manaoio, na kane a me na wahine he nui loa.)
15đến nỗi người ta đem kẻ bịnh để ngoài đường, cho nằm trên giường nhỏ hoặc trên chõng, để khi Phi-e-rơ đi ngang qua, bóng của người ít nữa cũng che được một vài người.
15No ia mea, lawe mai la lakou i ka poe mai ma na alanui, a waiho iho la ia lakou maluna o na moe hilinai a me na wahi moe, i malu ae paha ke aka o Petero maluna o kekahi o lakou, i kona hele ana ae.
16Dân sự ở các thành lân cận cũng lũ lượt kéo tới thành Giê-ru-sa-lem, đem đến những người đau ốm và kẻ bị tà ma khuấy hại, thì hết thảy đều được chữa lành.
16He nui ka poe i hele mai i Ierusalema, no ka kulanakauhale a puni, e lawe ana i ka poe mai, a me ka poe i loohia i na uhane ino; a hoolaia lakou a pau.
17Bấy giờ thầy cả thượng phẩm và những kẻ theo người (ấy là phe Sa-đu-sê) đều đứng dậy, đầy lòng ghen tương,
17Alaila ku ae iluna ke kahuna nui, a me ka poe a pau me ia, (he poe Sadukaio lakou,) ua piha loa lakou i ka ukiuki;
18bắt các sứ đồ bỏ vào khám công.
18Hopu aku la ko lakou lima i ka poe lunaolelo, a hahao iho la ia lakou maloko o ka halepaahao.
19Nhưng đang ban đêm, có một thiên sứ của Chúa mở cửa khám cho sứ đồ ra, và dặn rằng:
19Wehe mai la ka anela o ka Haku i na puka o ka halepaahao i ka po, a lawe mai la ia lakou mawaho, i mai la,
20Đi đi, hãy chường mặt nơi đền thờ, mà rao giảng cho dân chúng mọi lời nầy của sự sống.
20E hele oukou, a e ku maloko o ka luakini, e olelo aku i kanaka i na huaolelo a pau o keia ola.
21sứ đồ nghe bấy nhiêu lời, vừa lúc rạng ngày, vào đền thờ, khởi sự dạy dỗ. Nhưng thầy cả thượng phẩm và những kẻ ở với người đến thình lình, nhóm tòa công luận và hết thảy trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên lại, sai người vào khám đặng điệu các Sứ đồ đến.
21A lohe lakou, komo ae la lakou iloko o ka luakini i ke kakahiaka nui, ao ae la lakou. A hiki mai la ke kahuna nui, a me ka poe me ia, hoakoakoa mai la lakou i ka ahalunakanawai, a me na lunakahiko a pau o ka Iseraela, a hoouna aku la ma ka halepaahao i laweia mai lakou.
22Các kẻ sai đến khám, không thấy sứ đồ tại đó, bèn trở về trình
22A hiki ae la na ilamuku, aole loaa ia lakou maloko o ka halepaahao, hoi mai lakou, i mai la,
23rằng: Chúng tôi thấy khám đóng kĩ, lính canh đứng ngoài trước cửa; nhưng lúc mở ra chẳng thấy một người nào ở trong.
23Loaa ia makou ka halepaahao ua paa, ua malu loa hoi, e ku ana no ka poe kiai ma na puka; a wehe makou, aohe kanaka oloko i loaa ia makou.
24Quan coi đền thờ và các thầy tế lễ cả nghe vậy, đều bức tức về việc các sứ đồ và về manh mối của việc ấy.
24A lohe iho la ke kahuna nui, a me ka luna o ka luakini, a me na kahuna nui i keia olelo, kanalua iho la lakou, i ka hope o keia mea.
25Nhưng có người thoạt đến, báo với họ rằng: Kìa, những người mà các quan đã bỏ tù, nay đang ở trong đền thờ dạy dỗ dân sự!
25Alaila, hele mai kekahi, hai mai la ia lakou, i mai la, Aia hoi na kanaka a oukou i hahao ai iloko o ka halepaahao e ku ana maloko o ka luakini, e ao aku ana i kanaka.
26Kế đó, quan coi đền thờ với các kẻ sai cùng đi đến nơi bắt và dẫn các sứ đồ đi, nhưng không dùng cách dữ tợn, vì sợ bị dân chúng ném đá;
26Alaila, kii aku la ka luna a me na ilamuku, a lawe malie mai la ia lakou; no ka makau o lakou i kanaka o hailukuia mai lakou.
27và khi điệu các sứ đồ đi rồi, thì đem đến tòa công luận. Thầy cả thượng phẩm tra hỏi các sứ đồ, rằng:
27A laweia mai lakou, hookuia iho la lakou imua i ka ahalunakanawai; a ninau aku la ke kahuna nui ia lakou,
28Chúng ta đã cấm nhặt các ngươi, không cho lấy danh đó mà dạy dỗ, song các ngươi lại làm cho thành Giê-ru-sa-lem đầy dẫy đạo giáo mình. Vậy, các ngươi muốn khiến máu người ấy đổ lại trên chúng ta sao!
28I aku la, Aole anei makou i papa aku ia oukou, mai ao aku ma keia inoa? Aia hoi, ua hoopiha oukou ia Ierusalema nei i ko oukou manao, a ke makemake nei oukou o hooili mai i ke koko o keia kanaka maluna o makou.
29Phi-e-rơ và các sứ đồ trả lời rằng: Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta.
29Alaila, olelo mai o Petero, a me na lunaolelo, i mai la, E pono no ia makou ke malama i ka ke Akua, aole i ka ke kanaka.
30Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại, là Đấng mà các ông đã treo trên cây gỗ và giết đi.
30O ke Akua o ko kakou poe kupuna, ua hoala hou mai oia ia Iesu, i ka mea a oukou i pepehi ai, a kau maluna o ka laau.
31Đức Chúa Trời đã đem Đấng ấy lên bên hữu Ngài, làm Vua và Cứu Chúa, để ban lòng ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên.
31Oia ka ke Akua i hookiekie ae ma kona lima akau, i Alii, i Ola hoi, e haawi mai i ka Iseraela, i ka mihi, a me ke kala ana i ka hala.
32Còn Chúng ta đây là kẻ làm chứng mọi việc đó, cũng như Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho kẻ vâng lời Ngài vậy.
32O makou no kona poe hoike no keia mau mea; a me ka Uhane Hemolele hoi, o ka mea a ke Akua i haawi mai ai i ka poe malama ia ia.
33Họ nghe mấy lời thì nghiến ngầm, giận hoảng, bàn mưu giết các sứ đồ.
33A lohe ae la lakou ia mea, walania lakou, kukakuka iho la e pepehi ia lakou.
34Nhưng một người Pha-ri-si, tên là Ga-ma-li-ên, làm luật sư, được dân sự tôn kính, đứng lên giữa tòa công luận, truyền lịnh đem các sứ đồ ra ngoài một lát.
34Alaila, ku ae la kekahi iluna maloko o ka ahalunakanawai, he Parisaio, o Gamaliela kona inoa, he kumu ao kanawai, ua mahaloia e na kanaka a pau loa, kauoha ae la ia e hookaa iki aku i na lunaolelo mawaho.
35Kế đó, người nói rằng: Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy cẩn thận về điều các ngươi sẽ xử với những người nầy.
35I aku la oia ia lakou, E na kanaka o ka Iseraela, e ao oukou ia oukou iho, i ka mea a oukou e manao ai e hana aku i keia mau kanaka.
36Trước đây, Thêu-đa dấy lên, xưng mình là kẻ tôn trọng, có độ bốn trăm người theo hắn: hắn bị giết, và cả thảy những kẻ theo hắn đều tan lạc, rút lại chẳng qua là hư không.
36No ka mea, i na la i hala aku nei, ku ae la o Teuda, kaena iho la ia ia iho no, a hoopili aku la kekahi poe kanaka io na la eha paha haneri; pepehiia iho la ia; a o ka poe a pau i malama i kana, ua hoopuehuia lakou, a lilo ae la i mea ole.
37Kế hắn thì có Giu-đa, người Ga-li-lê, dấy lên, về thời kỳ tu sổ dân, rủ nhiều người theo mình; nhưng rồi cũng chết, bao nhiêu kẻ theo phải tan tành.
37A mahope ona ku ae la o Iuda, no Galilaia, i ka manawa o ka helu auhau ana, a alakai aku la ia i kekahi poe nui mahope ona; make iho la no hoi ia; a o ka poe a pau i malama aku i kana, ua hooauheeia lakou.
38Nay ta khuyên các ngươi: Hãy lánh xa những người đó, để mặc họ đi. Vì nếu mưu luận và công cuộc nầy ra bởi người ta, thì sẽ tự hư đi;
38Ano hoi, ke olelo aku nei no hoi au ia oukou, mai mea iki aku oukou i keia poe kanaka, e waiho okoa aku no; no ka mea, ina no kanaka keia manao, a me keia hana, e pau wale no ia.
39nhưng nếu bởi Đức Chúa Trời ra, thì các ngươi phá diệt những người đó chẳng nổi, và lại là liều mình đánh giặc cùng Đức Chúa Trời. Chúng nghe theo lời người:
39Aka, ina na ke Akua, aole hiki ia oukou ke hoolui, o loaa paha uanei oukou e paio ana i ke Akua.
40thì đòi các sứ đồ trở vào, sai đánh đòn, rồi cấm không được lấy danh Đức Chúa Jêsus mà giảng dạy; đoạn, tha ra.
40Ae mai la lakou ia ia; a kii aku la lakou i na lunaolelo, hahau iho la, a papa aku la ia lakou, mai olelo aku ma ka inoa o Iesu, alaila kuu aku la.
41Vậy, các sứ đồ từ tòa công luận ra, đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Đức Chúa Jêsus.
41Hele aku la lakou, mai ke alo aku o ka ahalunakanawai mo ka olioli, no ka mea, ua manaoia he pono ke hoinoia mai lakou no kona inoa.
42Ngày nào cũng vậy, tại trong đền thờ hoặc từng nhà, sứ đồ cứ dạy dỗ rao truyền mãi về Tin Lành của Đức Chúa Jêsus, tức là Đấng Christ.
42A i kela la i keia la, aole lakou i hooki i ka lakou ao ana aku, a me ka hai aku ia Iesu Kristo, ma ka luakini, a ia hale aku ia hale aku.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.