Sứ đồ 5
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Coptic New Testament (Bohairic)
1Nhưng có một người tên là A-na-nia, thuận với vợ là Sa-phi-ra, bán gia sản mình,
1ⲞⲨⲢⲰⲘⲒ ⲆⲈ ϨⲰϤ ⲈⲠⲈϤⲢⲀⲚ ⲠⲈ ⲀⲚⲀⲚⲒⲀⲤ ⲚⲈⲘ ⲤⲀⲠⲪⲒⲢⲀ ⲦⲈϤⲤϨⲒⲘⲒ ⲀϤϮ ⲚⲞⲨⲒⲞϨⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲀ ⲦⲈϤⲦⲒⲘⲎ.
2và đồng mưu với vợ, giữ lại một phần tiền giá bán; rồi mới đem phần còn lại đặt dưới chân các sứ đồ.
2ⲈⲤⲤⲰⲞⲨⲚ ⲚϪⲈⲦⲈϤⲤϨⲒⲘⲒ ⲀϤⲰⲖⲒ ⲚϬⲒⲞⲨⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚϮⲦⲒⲘⲎ ⲚⲦⲈⲠⲒⲒⲞϨⲒ ⲀϤⲒⲚⲒ ⲆⲈ ⲚⲞⲨⲘⲈⲢⲞⲤ ⲀϤⲬⲀⲨ ϦⲀⲢⲀⲦⲞⲨ ⲚⲚⲒⲀⲠⲞⲤⲦⲞⲖⲞⲤ.
3Phi-e-rơ bèn nói với người rằng: Hỡi A-na-nia, sao quỉ Sa-tan đã đầy dẫy lòng ngươi, đến nỗi ngươi nói dối cùng Đức Thánh Linh, mà bớt lại một phần giá ruộng đó?
3ⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲀϤ ϪⲈ ⲀⲚⲀⲚⲒⲀⲤ ⲈⲐⲂⲈⲞⲨ ⲀⲠⲤⲀⲦⲀⲚⲀⲤ ⲘⲀϨ ⲠⲈⲔϨⲎⲦ ⲈⲐⲢⲈⲔϪⲈⲘⲈⲐⲚⲞⲨϪ ⲈⲠⲒⲠⲚⲈⲨⲘⲀⲈⲐⲞⲨⲀⲂ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲐⲢⲈⲔⲰⲖⲒ ⲚϬⲒⲞⲨⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚϮⲦⲒⲘⲎ ⲚⲦⲈⲠⲒⲒⲞϨⲒ.
4Nếu ngươi chưa bán ruộng đó, há chẳng phải là của ngươi sao? Khi bán rồi, giữ giá đó há chẳng được sao? Điều đó nhập vào lòng ngươi thế nào? Aáy chẳng phải ngươi nói dối loài người, bèn là nói dối Đức Chúa Trời.
4ⲘⲎ ⲈϤϢⲞⲠ ⲚⲀϤϢⲞⲠ ⲚⲀⲔ ⲀⲚ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲔⲦⲎⲒϤ ⲈⲂⲞⲖ ⲚⲀϤⲬⲎ ⲀⲚ ϦⲀ ⲦⲈⲔⲈⲜⲞⲨⲤⲒⲀ ⲈⲐⲂⲈⲞⲨ ϪⲈ ⲈⲦⲀⲔⲬⲀ ⲠⲀⲒϨⲰⲂ ϦⲈⲚⲠⲈⲔϨⲎⲦ ⲈⲦⲀⲔϪⲈⲘⲈⲐⲚⲞⲨϪ ⲈⲢⲰⲘⲒ ⲀⲚ ⲀⲖⲖⲀ ⲈⲪⲚⲞⲨϮ.
5A-na-nia nghe nói bấy nhiêu lời, thì ngã xuống và tắt hơi; phàm người nào hay điều đó đều sợ hãi quá đỗi.
5ⲈϤⲤⲰⲦⲈⲘ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲀⲚⲀⲚⲒⲀⲤ ⲈⲚⲀⲒⲤⲀϪⲒ ⲀϤϨⲒ ⲀϤϨⲒ ⲠⲈϤⲐⲎⲞⲨ ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲞⲨⲚⲒϢϮ ⲚϨⲞϮ ⲈϪⲈⲚ ⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈⲦⲤⲰⲦⲈⲘ ⲈⲚⲀⲒ.
6Nhưng các gã trẻ tuổi đứng dậy khâm liệm thây người và đem đi chôn.
6ⲀⲨⲦⲰⲞⲨⲚⲞⲨ ⲚϪⲈⲚⲒⲀⲖⲰⲞⲨⲒ ⲀⲨϪⲞⲖϤ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀϤⲈⲚϤ ⲈⲂⲞⲖ ⲀⲨⲐⲞⲘⲤϤ.
7Khỏi đó độ ba giờ, vợ người bước vào, vốn chưa hề biết việc mới xảy đến.
7ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲆⲈ ⲈⲦⲀ ⲄϮ ⲚⲞⲨⲚⲞⲨ ⲚⲈⲤⲔⲒ ϢⲰⲠⲒ ⲀⲤⲒ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲚϪⲈⲦⲈϤⲤϨⲒⲘⲒ ⲚⲤⲤⲰⲞⲨⲚ ⲀⲚ ⲘⲠⲈⲦⲀϤϢⲰⲠⲒ
8Phi-e-rơ cất tiếng nói rằng: Hãy khai cho ta, ngươi đã bán đám ruộng giá có ngằn ấy phải không? Thưa rằng: Phải, giá ngằn ấy đó.
8ⲠⲈϪⲈ ⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲚⲀⲤ ϪⲈ ⲀϪⲞⲤ ⲚⲎⲒ ϪⲈ ⲈⲦⲀⲢⲈⲦⲈⲚϮ ⲘⲠⲒⲒⲞϨⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲀ ⲚⲀⲒϨⲀⲦ ⲚⲐⲞⲤ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲀⲤ ϪⲈ ⲀϨⲀ ϦⲀ ⲚⲀⲒ.
9Phi-e-rơ bèn nói rằng: Sao các ngươi dám đồng mưu để thử Thánh Linh của Chúa? Kìa, chân những kẻ chôn chồng ngươi đang ở ngoài cửa, họ sẽ đem ngươi đi luôn.
9ⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲆⲈ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲀⲤ ϪⲈ ⲈⲐⲂⲈⲞⲨ ⲀⲠⲀⲒϨⲰⲂ ϮⲘⲀϮ ϦⲈⲚⲐⲎⲚⲞⲨ ⲈⲈⲢⲠⲒⲢⲀⲌⲒⲚ ⲘⲠⲒⲠⲚⲈⲨⲘⲀⲚⲦⲈⲠϬⲞⲒⲤ ϨⲎⲠⲠⲈ ⲒⲤ ⲚⲒϬⲀⲖⲀⲨϪ ⲚⲦⲈⲚⲎ ⲈⲦⲀⲨⲐⲰⲘⲤ ⲘⲠⲈϨⲀⲒ ⲤⲈⲬⲎ ϨⲒⲢⲈⲚ ⲚⲒⲢⲰⲞⲨ ⲤⲈⲚⲀϤⲒϮ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲰⲒ.
10Chính lúc đó, nàng té xuống nơi chân Phi-e-rơ và tắt hơi. Các gã tuổi trẻ trở về, thấy nàng đã chết, bèn khiêng đi chôn bên chồng nàng.
10ⲀⲤϨⲈⲒ ⲆⲈ ϦⲀⲢⲀⲦⲞⲨ ⲚⲚⲈϤϬⲀⲖⲀⲨϪ ⲀⲤϨⲒ ⲠⲈⲤⲐⲎⲞⲨ ⲈⲦⲀⲨⲒ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲚϪⲈⲚⲒϦⲈⲖϢⲒⲢⲒ ⲀⲨϪⲈⲘⲤ ⲈⲤⲘⲰⲞⲨⲦ ⲈⲦⲀⲨⲞⲖⲤ ⲈⲂⲞⲖ ⲀⲨⲬⲀⲤ ϦⲀⲦⲈⲚ ⲠⲈⲤϨⲀⲒ.
11Cả Hội thánh đều rất sợ hãi, cho đến người nào nghe tin cũng vậy.
11ⲀⲤϢⲰⲠⲒ ⲚϪⲈⲞⲨⲚⲒϢϮ ⲚϨⲞϮ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲈⲚ ϮⲈⲔⲔⲖⲎⲤⲒⲀ ⲦⲎⲢⲤ ⲚⲈⲘ ⲈϪⲈⲚ ⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈⲦⲤⲰⲦⲈⲘ ⲈⲚⲀⲒ.
12Bấy giờ, có nhiều phép lạ dấu kỳ được làm ra trong dân bởi tay các sứ đồ; và các môn đồ đều hiệp một lòng nhóm nhau dưới hiên cửa Sa-lô-môn.
12ⲈⲂⲞⲖ ⲆⲈ ϨⲒⲦⲈⲚ ⲚⲈⲚϪⲒϪ ⲚⲚⲒⲀⲠⲞⲤⲦⲞⲖⲞⲤ ⲚⲀⲨϢⲞⲠ ⲠⲈ ⲚϪⲈϨⲀⲚⲘⲎϢ ⲘⲘⲎⲒⲚⲒ ⲚⲈⲘ ϨⲀⲚϢⲪⲎⲢⲒ ⲚϨⲢⲎⲒ ϦⲈⲚⲠⲒⲖⲀⲞⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲨⲐⲞⲨⲎⲦ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲈⲨⲤⲞⲠ ϦⲀⲦⲈⲚ ϮⲤⲦⲞⲀ ⲚⲦⲈⲤⲞⲖⲞⲘⲰⲚ.
13Dầu vậy, chẳng một kẻ nào khác dám nhập bọn với môn đồ, nhưng dân chúng thì cả tiếng ngợi khen.
13ⲚϦⲢⲎⲒ ⲆⲈ ϦⲈⲚⲚⲒⲤⲰϪⲠ ⲘⲘⲞⲚ ϨⲖⲒ ⲈⲢⲦⲞⲖⲘⲀⲚ ⲈⲦⲞⲘϤ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲀⲖⲖⲀ ⲚⲀⲢⲈ ⲠⲒⲖⲀⲞⲤ ϬⲒⲤⲒ ⲘⲘⲰⲞⲨ
14Số những người tin Chúa cùng ngày càng thêm lên, nam nữ đều đông lắm,
14ⲘⲀⲖⲖⲞⲚ ⲆⲈ ⲚⲀⲨⲞⲨⲞϨ ⲘⲘⲰⲞⲨ ⲈⲠϬⲞⲒⲤ ⲈⲨⲚⲀϨϮ ⲚϪⲈϨⲀⲚⲘⲎϢ ⲚⲢⲰⲘⲒ ⲚⲈⲘ ϨⲀⲚϨⲒⲞⲘⲒ.
15đến nỗi người ta đem kẻ bịnh để ngoài đường, cho nằm trên giường nhỏ hoặc trên chõng, để khi Phi-e-rơ đi ngang qua, bóng của người ít nữa cũng che được một vài người.
15ϨⲰⲤⲦⲈ ⲚⲤⲈⲒⲚⲒ ⲚⲚⲎ ⲈⲦϢⲰⲚⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲒ ⲚⲒⲠⲖⲀⲦⲒⲀ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲤⲈⲬⲀⲨ ϨⲒϪⲈⲚ ϨⲀⲚϬⲖⲞϪ ⲚⲈⲘ ϨⲀⲚⲘⲀ ⲚⲈⲚⲔⲞⲦ ϨⲒⲚⲀ ⲈϤⲚⲀⲤⲒⲚⲒⲰⲞⲨ ⲚϪⲈⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲔⲀⲚ ⲚⲦⲈⲦⲈϤϦⲎⲒⲂⲒ Ⲓ- ⲈϪⲈⲚ ⲞⲨⲀⲒ ⲘⲘⲰⲞⲨ.
16Dân sự ở các thành lân cận cũng lũ lượt kéo tới thành Giê-ru-sa-lem, đem đến những người đau ốm và kẻ bị tà ma khuấy hại, thì hết thảy đều được chữa lành.
16ⲚⲀⲨⲚⲎⲞⲨ ⲆⲈ ⲠⲈ ⲚϪⲈⲚⲒⲘⲎϢ ⲚⲦⲈⲚⲒⲠⲞⲖⲒⲤ ⲈⲦⲔⲰϮ ⲈⲒⲈⲢⲞⲤⲀⲖⲎⲘ ⲈⲨⲒⲚⲒ ⲚⲚⲎ ⲈⲦϢⲰⲚⲒ ⲚⲈⲘ ⲚⲎ ⲈⲦϨⲎϢ ⲚⲦⲈⲚ ⲚⲒⲠⲚⲈⲨⲘⲀⲚⲀⲔⲀⲐⲀⲢⲦⲞⲚ ⲚⲀⲒ ⲆⲈ ⲦⲎⲢⲞⲨ ϢⲀⲨⲞⲨϪⲀⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲒⲦⲞⲦⲞⲨ.
17Bấy giờ thầy cả thượng phẩm và những kẻ theo người (ấy là phe Sa-đu-sê) đều đứng dậy, đầy lòng ghen tương,
17ⲀϤⲦⲰⲚϤ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲠⲒⲀⲢⲬⲒⲈⲢⲈⲨⲤ ⲚⲈⲘ ⲚⲎ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲈⲐⲚⲈⲘⲀϤ ⲈⲦⲈ ⲦϨⲈⲢⲈⲤⲒⲤ ⲚⲦⲈⲚⲒⲤⲀⲆⲆⲞⲨⲔⲈⲞⲤ ⲀⲨⲘⲞϨ ⲚⲬⲞϨ.
18bắt các sứ đồ bỏ vào khám công.
18ⲀⲨⲒⲚⲒ ⲚⲚⲞⲨϪⲒϪ ⲈϪⲈⲚ ⲚⲒⲀⲠⲞⲤⲦⲞⲖⲞⲤ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲬⲀⲨ ⲈⲠⲀⲢⲈϨ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲚⲆⲎⲘⲞⲤⲒⲀ.
19Nhưng đang ban đêm, có một thiên sứ của Chúa mở cửa khám cho sứ đồ ra, và dặn rằng:
19ⲞⲨⲀⲄⲄⲈⲖⲞⲤ ⲆⲈ ⲚⲦⲈⲠϬⲞⲒⲤ ⲀϤⲞⲨⲰⲚ ⲚⲚⲒⲢⲰⲞⲨ ⲚⲦⲈⲠⲒϢⲦⲈⲔⲞ ϦⲈⲚⲠⲒⲈϪⲰⲢϨ ⲀϤⲈⲚⲞⲨ ⲈⲂⲞⲖ ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲰⲞⲨ
20Đi đi, hãy chường mặt nơi đền thờ, mà rao giảng cho dân chúng mọi lời nầy của sự sống.
20ϪⲈ ⲘⲀϢⲈ ⲚⲰⲦⲈⲚ ⲤⲀϪⲒ ϦⲈⲚⲠⲒⲈⲢⲪⲈⲒ ⲚⲈⲘ ⲠⲒⲖⲀⲞⲤ ⲚⲚⲒⲤⲀϪⲒ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲚⲦⲈⲠⲀⲒⲰⲚϦ.
21sứ đồ nghe bấy nhiêu lời, vừa lúc rạng ngày, vào đền thờ, khởi sự dạy dỗ. Nhưng thầy cả thượng phẩm và những kẻ ở với người đến thình lình, nhóm tòa công luận và hết thảy trưởng lão của dân Y-sơ-ra-ên lại, sai người vào khám đặng điệu các Sứ đồ đến.
21ⲈⲦⲀⲨⲤⲰⲦⲈⲘ ⲆⲈ ⲀⲨϢⲞⲢⲠⲞⲨ ⲀⲨϢⲈ ⲚⲰⲞⲨ ⲈⲠⲒⲈⲢⲪⲈⲒ ⲚⲀⲨϮⲤⲂⲰ ⲠⲈ ⲈⲦⲀϤⲦⲰⲚϤ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲠⲒⲀⲢⲬⲒⲈⲢⲈⲨⲤ ⲚⲈⲘ ⲚⲎ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲈⲐⲚⲈⲘⲀϤ ⲀⲨⲐⲰⲞⲨϮ ⲈⲠⲒⲘⲀ ⲚϮϨⲀⲠ ⲚⲈⲘ ⲚⲒϦⲈⲖⲖⲞⲒ ⲦⲎⲢⲞⲨ ⲚⲦⲈⲚⲈⲚϢⲎⲢⲒ ⲘⲠⲒⲤⲖ ⲞⲨⲞϨ ⲀⲨⲞⲨⲰⲢⲠ ⲈⲠⲒⲘⲀ ⲚⲤⲰⲚϨ ⲈⲐⲢⲞⲨⲒⲚⲒ ⲘⲘⲰⲞⲨ.
22Các kẻ sai đến khám, không thấy sứ đồ tại đó, bèn trở về trình
22ⲈⲦⲀⲨⲒ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲚⲒϨⲨⲠⲈⲢⲈⲦⲎⲤ ⲘⲠⲞⲨϪⲈⲘⲞⲨ ϦⲈⲚⲠⲒϢⲦⲈⲔⲞ ⲈⲦⲀⲨⲔⲞⲦⲞⲨ ⲆⲈ ⲀⲨⲦⲀⲘⲰⲞⲨ
23rằng: Chúng tôi thấy khám đóng kĩ, lính canh đứng ngoài trước cửa; nhưng lúc mở ra chẳng thấy một người nào ở trong.
23ⲈⲨϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲀⲚϪⲒⲘⲒ ⲘⲈⲚ ⲘⲠⲒⲘⲀ ⲚⲤⲰⲚϨ ⲈϤϢⲞⲦⲈⲘ ϦⲈⲚⲦⲀϪⲢⲞ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲒⲢⲈϤⲀⲢⲈϨ ⲈⲨⲞϨⲒ ⲈⲢⲀⲦⲞⲨ ϦⲀⲦⲈⲚ ⲚⲒⲢⲰⲞⲨ ⲈⲦⲀⲨⲞⲨⲰⲚ ⲆⲈ ⲘⲠⲈⲚϪⲈⲘ ϨⲖⲒ ⲚϦⲞⲨⲚ.
24Quan coi đền thờ và các thầy tế lễ cả nghe vậy, đều bức tức về việc các sứ đồ và về manh mối của việc ấy.
24ⲈⲦⲀⲨⲤⲰⲦⲈⲘ ⲆⲈ ⲈⲚⲀⲒⲤⲀϪⲒ ⲚϪⲈⲚⲒⲤⲀⲦⲎ ⲄⲞⲨⲤ ⲚⲦⲈⲠⲒⲈⲢⲪⲈⲒ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲀⲢⲬⲒⲈⲢⲈⲨⲤ ⲚⲀⲨⲦⲰⲘⲦ ⲈⲐⲂⲎⲦⲞⲨ ⲠⲈ ϪⲈ ⲞⲨ ⲠⲈ ⲪⲀⲒ ⲈⲦⲀϤϢⲰⲠⲒ.
25Nhưng có người thoạt đến, báo với họ rằng: Kìa, những người mà các quan đã bỏ tù, nay đang ở trong đền thờ dạy dỗ dân sự!
25ⲀϤⲒ ⲆⲈ ⲚϪⲈⲞⲨⲀⲒ ⲀϤⲦⲀⲘⲰⲞⲨ ϪⲈ ϨⲎⲠⲠⲈ ⲒⲤ ⲚⲒⲢⲰⲘⲒ ⲈⲦⲀⲢⲈⲦⲈⲚⲬⲀⲨ ϦⲈⲚⲠⲒϢⲦⲈⲔⲞ ⲤⲈⲞϨⲒ ⲈⲢⲀⲦⲞⲨ ϦⲈⲚⲠⲒⲈⲢⲪⲈⲒ ⲈⲨϮⲤⲂⲰ ⲘⲠⲒⲖⲀⲞⲤ.
26Kế đó, quan coi đền thờ với các kẻ sai cùng đi đến nơi bắt và dẫn các sứ đồ đi, nhưng không dùng cách dữ tợn, vì sợ bị dân chúng ném đá;
26ⲦⲞⲦⲈ ⲀϤϢⲈ ⲚⲀϤ ⲚϪⲈⲠⲒⲤⲀⲦⲎⲄⲞⲨⲤ ⲚⲈⲘ ⲚⲒϨⲨⲠⲈⲢⲈⲦⲎⲤ ⲀⲨⲈⲚⲞⲨ ⲚϪⲞⲚⲤ ⲀⲚ ⲚⲀⲨⲈⲢϨⲞϮ ⲄⲀⲢ ⲠⲈ ϦⲀⲦϨⲎ ⲘⲠⲒⲖⲀⲞⲤ ⲘⲎⲠⲰⲤ ⲚⲤⲈϨⲒⲰⲚⲒ ⲈϪⲰⲞⲨ.
27và khi điệu các sứ đồ đi rồi, thì đem đến tòa công luận. Thầy cả thượng phẩm tra hỏi các sứ đồ, rằng:
27ⲈⲦⲀⲨⲈⲚⲞⲨ ⲆⲈ ⲀⲨⲦⲀϨⲰⲞⲨ ⲈⲢⲀⲦⲞⲨ ϦⲈⲚⲠⲒⲘⲀ ⲚϮϨⲀⲠ ⲀϤϢⲈⲚⲞⲨ ⲚϪⲈⲠⲒⲀⲢⲬⲒⲈⲢⲈⲨⲤ
28Chúng ta đã cấm nhặt các ngươi, không cho lấy danh đó mà dạy dỗ, song các ngươi lại làm cho thành Giê-ru-sa-lem đầy dẫy đạo giáo mình. Vậy, các ngươi muốn khiến máu người ấy đổ lại trên chúng ta sao!
28ⲈϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ϦⲈⲚⲞⲨϨⲞⲚϨⲈⲚ ⲀⲚϨⲞⲚϨⲈⲚ ⲈⲦⲈⲚ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲈϢⲦⲈⲘϮⲤⲂⲰ ϦⲈⲚⲠⲀⲒⲢⲀⲚ ϨⲎⲠⲠⲈ ⲀⲦⲈⲦⲈⲚⲘⲞϨ ⲚⲒⲈⲢⲞⲤⲀⲖⲎⲘ ⲦⲎⲢⲤ ⲈⲂⲞⲖ ϦⲈⲚⲦⲈⲦⲈⲚⲤⲂⲰ ⲞⲨⲞϨ ⲦⲈⲦⲈⲚⲘⲈⲨⲒ ⲈⲈⲚ ⲠⲤⲚⲞϤ ⲘⲠⲀⲒⲢⲰⲘⲒ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲰⲚ.
29Phi-e-rơ và các sứ đồ trả lời rằng: Thà phải vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là vâng lời người ta.
29ⲀϤⲈⲢⲞⲨⲰ ⲚϪⲈⲠⲈⲦⲢⲞⲤ ⲚⲈⲘ ⲚⲒⲀⲠⲞⲤⲦⲞⲖⲞⲤ ⲠⲈϪⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲤⲈⲘⲠϢⲀ ⲚⲤⲰⲦⲈⲘ ⲚⲤⲀⲪⲚⲞⲨϮ ⲈϨⲞⲦⲈ ⲚⲒⲢⲰⲘⲒ.
30Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã khiến Đức Chúa Jêsus sống lại, là Đấng mà các ông đã treo trên cây gỗ và giết đi.
30ⲪⲚⲞⲨϮ ⲚⲦⲈⲚⲈⲚⲒⲞϮ ⲀϤⲦⲞⲨⲚⲞⲤ ⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲪⲀⲒ ⲚⲐⲰⲦⲈⲚ ⲈⲦⲀⲢⲈⲦⲈⲚⲈⲚ ⲚⲈⲦⲈⲚϪⲒϪ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲰϤ ⲈⲀⲢⲈⲦⲈⲚⲀϢϤ ⲈϪⲈⲚ ⲞⲨϢⲈ.
31Đức Chúa Trời đã đem Đấng ấy lên bên hữu Ngài, làm Vua và Cứu Chúa, để ban lòng ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên.
31ⲪⲀⲒ ⲀϤϬⲀⲤϤ ⲚϪⲈⲪⲚⲞⲨϮ ⲚϨⲞⲨⲒⲦ ⲚⲤⲰⲦⲎⲢ ⲚϨⲢⲎⲒ ϦⲈⲚⲦⲈϤⲞⲨⲒⲚⲀⲘ ⲈⲐⲢⲈϤϮ ⲚⲞⲨⲘⲈⲦⲀⲚⲞⲒⲀ ⲘⲠⲒⲤⲖ ⲚⲈⲘ ⲠⲬⲰ ⲈⲂⲞⲖ ⲚⲦⲈϨⲀⲚⲚⲞⲂⲒ.
32Còn Chúng ta đây là kẻ làm chứng mọi việc đó, cũng như Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời đã ban cho kẻ vâng lời Ngài vậy.
32ⲞⲨⲞϨ ⲀⲚⲞⲚ ⲚϦⲢⲎⲒ ⲚϦⲎⲦϤ ⲦⲈⲚⲞⲒ ⲘⲘⲈⲐⲢⲈ ⲚⲦⲈⲚⲀⲒⲤⲀϪⲒ ⲚⲀⲒ ⲪⲚⲞⲨϮ ⲆⲈ ⲀϤϮ ⲘⲠⲒⲠⲚⲈⲨⲘⲀⲈⲐⲞⲨⲀⲂ ⲚⲚⲎ ⲈⲦⲤⲰⲦⲈⲘ ⲚⲤⲰϤ.
33Họ nghe mấy lời thì nghiến ngầm, giận hoảng, bàn mưu giết các sứ đồ.
33ⲈⲦⲀϤⲤⲰⲦⲈⲘ ⲆⲈ ⲈⲚⲀⲒ ⲀⲨϦⲢⲀϪⲢⲈϪ ⲚⲚⲞⲨⲚⲀϪϨⲒ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲰⲞⲨ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲀⲨⲞⲨⲰϢ ⲈϦⲞⲐⲂⲞⲨ ⲠⲈ.
34Nhưng một người Pha-ri-si, tên là Ga-ma-li-ên, làm luật sư, được dân sự tôn kính, đứng lên giữa tòa công luận, truyền lịnh đem các sứ đồ ra ngoài một lát.
34ⲀϤⲦⲰⲚϤ ⲚϪⲈⲞⲨⲀⲒ ϦⲈⲚⲠⲒⲘⲀ ⲚϮϨⲀⲠ ⲞⲨⲪⲀⲢⲒⲤⲈⲞⲤ ⲠⲈ ⲠⲈϤⲢⲀⲚ ⲠⲈ ⲄⲀⲘⲀⲖⲒⲎ ⲖⲞⲨⲢⲈϤϮⲤⲂⲰ ⲠⲈ ⲚⲦⲈⲠⲒⲚⲞⲘⲞⲤ ⲈϤⲦⲀⲒⲎ ⲞⲨⲦ ⲚⲦⲈⲚ ⲠⲒⲖⲀⲞⲤ ⲦⲎⲢϤ ⲀϤⲞⲨⲀϨⲤⲀϨⲚⲒ ⲈϨⲒ ⲚⲒⲢⲰⲘⲒ ⲈⲂⲞⲖ ⲚⲞⲨⲔⲞⲨϪⲒ.
35Kế đó, người nói rằng: Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy cẩn thận về điều các ngươi sẽ xử với những người nầy.
35ⲠⲈϪⲀϤ ⲚⲰⲞⲨ ϪⲈ ⲚⲒⲢⲰⲘⲒ ⲚⲒⲤⲢⲀⲎⲖⲒⲦⲎⲤ ⲘⲀϨⲐⲎⲦⲈⲚ ⲈⲢⲰⲦⲈⲚ ⲈⲐⲂⲈ ⲚⲀⲒⲢⲰⲘⲒ ϪⲈ ⲞⲨ ⲠⲈ ⲈⲦⲈⲦⲈⲚⲚⲀⲀⲒϤ.
36Trước đây, Thêu-đa dấy lên, xưng mình là kẻ tôn trọng, có độ bốn trăm người theo hắn: hắn bị giết, và cả thảy những kẻ theo hắn đều tan lạc, rút lại chẳng qua là hư không.
36ϦⲀϪⲰⲞⲨ ⲄⲀⲢ ⲚⲚⲀⲒⲈϨⲞⲞⲨ ⲀϤⲦⲰⲚϤ ⲚϪⲈⲞⲨⲀⲒ ϪⲈ ⲐⲈⲨⲦⲎⲤ ⲈϤϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ϪⲈ ⲀⲚⲞⲔ ⲠⲈ ⲀⲨⲞⲨⲀϨⲞⲨ ⲚⲤⲰϤ ⲚϪⲈⲨⲚⲎⲠⲒ ⲚⲢⲰⲘⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲈⲦⲀⲨϦⲞⲐⲂⲈϤ ⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈⲚⲀⲢⲈ ⲠⲞⲨϨⲎⲦ ⲐⲎⲦ ⲚⲈⲘⲀϤ ⲀⲨⲂⲰⲖ ⲈⲂⲞⲖ ⲈⲀⲨϢⲰⲠⲒ ⲈϨⲀⲚϨⲖⲒ.
37Kế hắn thì có Giu-đa, người Ga-li-lê, dấy lên, về thời kỳ tu sổ dân, rủ nhiều người theo mình; nhưng rồi cũng chết, bao nhiêu kẻ theo phải tan tành.
37ⲘⲈⲚⲈⲚⲤⲀ ⲪⲀⲒ ⲀϤⲦⲰⲚϤ ⲚϪⲈⲒⲞⲨⲆⲀⲤ ⲠⲒⲄⲀⲖⲒⲖⲈⲞⲤ ϦⲈⲚⲚⲒⲈϨⲞⲞⲨ ⲚⲦⲈϮⲈⲠⲒⲄⲢⲀⲪⲎ ⲞⲨⲞϨ ⲀϤⲤⲈⲔ ⲞⲨⲘⲎϢ ⲤⲀⲪⲀϨⲞⲨ ⲘⲘⲞϤ ⲞⲨⲞϨ ⲠⲒⲬⲈⲦ ⲀϤⲦⲀⲔⲞ ⲞⲨⲞⲚ ⲚⲒⲂⲈⲚ ⲈⲚⲀⲢⲈ ⲠⲞⲨϨⲎⲦ ⲐⲎⲦ ⲚⲈⲘⲀϤ ⲀⲨⲂⲰⲖ ⲈⲂⲞⲖ.
38Nay ta khuyên các ngươi: Hãy lánh xa những người đó, để mặc họ đi. Vì nếu mưu luận và công cuộc nầy ra bởi người ta, thì sẽ tự hư đi;
38ⲞⲨⲞϨ ϮⲚⲞⲨ ϮϪⲰ ⲘⲘⲞⲤ ⲚⲰⲦⲈⲚ ϪⲈ ϨⲈⲚ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲀ ⲚⲀⲒⲢⲰⲘⲒ ⲞⲨⲞϨ ⲬⲀⲨ ⲈⲂⲞⲖ ϪⲈ ⲈϢⲰⲠ ⲠⲀⲒⲤⲞϬⲚⲒ ⲒⲈ ⲠⲀⲒϨⲰⲂ ⲞⲨⲈⲂⲞⲖ ϨⲒⲦⲈⲚ ⲚⲒⲢⲰⲘⲒ ⲠⲈ ⲒⲈ ϤⲚⲀⲂⲰⲖ ⲈⲂⲞⲖ.
39nhưng nếu bởi Đức Chúa Trời ra, thì các ngươi phá diệt những người đó chẳng nổi, và lại là liều mình đánh giặc cùng Đức Chúa Trời. Chúng nghe theo lời người:
39ⲒⲤϪⲈ ⲞⲨⲈⲂⲞⲖ ϨⲒⲦⲈⲚ ⲪⲚⲞⲨϮ ⲠⲈ ⲘⲘⲞⲚ ϢϪⲞⲘ ⲘⲘⲰⲦⲈⲚ ⲈⲂⲞⲖϤ ⲈⲂⲞⲖ ⲘⲎⲠⲞⲦⲈ ⲚⲤⲈϪⲈⲘ ⲐⲎⲚⲞⲨ ⲈⲢⲈⲦⲈⲚⲞⲒ ⲚⲢⲈϤϮ ⲈϦⲞⲨⲚ ⲈϨⲢⲈⲚ ⲪⲚⲞⲨϮ.
40thì đòi các sứ đồ trở vào, sai đánh đòn, rồi cấm không được lấy danh Đức Chúa Jêsus mà giảng dạy; đoạn, tha ra.
40ⲀⲨⲤⲰⲦⲈⲘ ⲚⲤⲰϤ ⲀⲨⲘⲞⲨϮ ⲈⲚⲒⲀⲠⲞⲤⲦⲞⲖⲞⲤ ⲀⲨϨⲒⲞⲨⲒ ⲈⲢⲰⲞⲨ ⲀⲨϨⲞⲚϨⲈⲚ ⲚⲰⲞⲨ ⲈϢⲦⲈⲘϮⲤⲂⲰ ϦⲈⲚⲪⲢⲀⲚ ⲚⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲀⲨⲬⲀϤ ⲈⲂⲞⲖ.
41Vậy, các sứ đồ từ tòa công luận ra, đều hớn hở về mình đã được kể là xứng đáng chịu nhục vì danh Đức Chúa Jêsus.
41ⲚⲐⲰⲞⲨ ⲘⲈⲚ ⲞⲨⲚ ⲚⲀⲨⲘⲞϢⲒ ⲈⲨⲢⲀϢⲒ ⲈⲂⲞⲖ ϨⲀ ⲠϨⲞ ⲘⲠⲒⲘⲀ ⲚϮϨⲀⲠ ϪⲈ ⲀⲨⲈⲢⲠⲈⲘⲠϢⲀ ⲚϢⲞϢⲞⲨ ⲈϨⲢⲎⲒ ⲈϪⲈⲚ ⲠⲀⲒⲢⲀⲚ.
42Ngày nào cũng vậy, tại trong đền thờ hoặc từng nhà, sứ đồ cứ dạy dỗ rao truyền mãi về Tin Lành của Đức Chúa Jêsus, tức là Đấng Christ.
42ⲚⲀⲨϦⲈⲚ ⲠⲒⲈⲢⲪⲈⲒ ⲘⲘⲎⲚⲒ ⲠⲈ ⲞⲨⲞϨ ⲚⲤⲈⲬⲰ ⲚⲦⲞⲦⲞⲨ ⲈⲂⲞⲖ ⲀⲚ ⲈⲨϮⲤⲂⲰ ⲔⲀⲦⲀ ⲎⲒ ⲈⲨϨⲒⲰⲒϢ ⲚⲒⲎⲤⲞⲨⲤ ⲠⲬⲢⲒⲤⲦⲞⲤ.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.