Sứ đồ 25
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Phê-tu đã đến tỉnh mình được ba ngày rồi, thì ở thành Sê-sa-rê đi lên thành Giê-ru-sa-lem.
1A HIKI ae la o Peseto i ua panalaau la, a hala na la ekolu, a pii aku la ia i Ierusalema, mai Kaisareia aku.
2Tại đó, có các thầy tế lễ cả và các người sang trọng trong dân Giu-đa đội đơn kiện Phao-lô trước mặt người;
2A o ke kahuna nui a me ka poe koikoi o na Iudaio, hoopii aku la lakou no Paulo ia ia, nonoi aku la,
3vì có ý nghịch, thì cố nài xin quan làm ơn đòi Phao-lô trở về thành Giê-ru-sa-lem: họ đặt âm mưu đặng giết người dọc đường.
3A koi aku no hoi ia ia i ka lokomaikai ku e ia ia e kii aku kela ia ia, e hele mai i Ierusalema; e hoohalua ana lakou ma ke alanui e pepehi ia ia.
4Nhưng Phê-tu trả lời rằng Phao-lô bị giam tại thành Sê-sa-rê, và chính mình người sẽ kíp trở về thành đó.
4I mai la o Peseto, ma Kaisareia e malamaia'i o Paulo, a oia iho no e hoi koke aku ilaila.
5Lại nói rằng những người tôn trưởng trong các ngươi hãy xuống với ta, nếu người ấy có phạm tội gì thì hãy cứ kiện.
5I hou mai la ia, O ka poe e hiki o oukou, e iho pu lakou me au; ina he mea hewa iloko o ia kanaka, e hoopii lakou nona.
6Phê-tu ở cùng họ vừa tám hay là mười ngày mà thôi, đoạn trở xuống thành Sê-sa-rê; sáng ngày sau, người ngồi nơi tòa án và truyền dẫn Phao-lô đến.
6A noho iho la ia me lakou i na la he umi paha a keu, alaila, iho ae la ia i Kaisareia; a ia la ae, noho iho la ia ma ka noho hookolokolo, a kena aku la ia e kaiia mai o Paulo.
7Phao-lô mới đến, thì có các người Giu-đa ở thành Giê-ru-sa-lem xuống vây bọc người, lấy nhiều cớ nặng mà thưa, nhưng chẳng tìm được chứng.
7A hiki mai la ia, ku mai la ka poe Iudaio, i iho mai mai Ierusalema mai, a hoopii aku la ia Paulo i na mea hewa, he nui loa, aole hoi i hiki ia lakou ke hooiaio mai.
8Còn Phao-lô nói đặng binh vực mình, rằng: Tôi chẳng từng làm điều dữ chi, hoặc nghịch cùng luật pháp người Giu-đa, hoặc nghịch cùng đền thờ, hay là nghịch cùng Sê-sa.
8Olelo iho la ia nona iho, Aole loa au i lawehala ma ke kanawai o na Iudaio, aole hoi ma ka luakini, aole hoi i ko Kaisara.
9Nhưng Phê-tu muốn cho đẹp lòng dân Giu-đa, thì trả lời rằng: Ngươi có muốn lên thành Giê-ru-sa-lem chịu xử tại đó về những việc nầy trước mặt ta chăng?
9No ka makemake ana o Peseto, e lokomaikai aku i na Iudaio, ninau aku la kela ia Paulo, i aku la, Ke makemake nei anei oe e pii i Ierusalema, a malaila e hookolokoloia'i e au, ma keia mau mea?
10Phao-lô bèn thưa rằng: Tôi ứng hầu trước mặt tòa án Sê-sa, ấy là nơi tôi phải chịu xử; tôi chẳng có lỗi chi với người Giu-đa, như chính mình quan biết rõ ràng.
10Alaila, olelo mai o Paulo, Ke ku nei au ma ka noho hookolokolo o Kaisara, i kahi kupono e hookolokoloia mai ai au: aole au i lawehala i na Iudaio, ua ike pono no oe.
11Ví bằng tôi có tội hay là phạm điều gì đáng chết, thì tôi chẳng từ chối chết đâu; trái lại, nếu trong đơn từ họ kiện tôi không có cớ gì hết, thì chẳng ai được nộp tôi cho họ. Tôi kêu nài sự đó đến Sê-sa.
11Ina i hewa au, a ina i hana au i ka mea e pono ai ka make, aole au e hoole aku i ka make; aka, ina he mea ole keia mau mea a lakou e hoopii mai nei ia'u, aole loa e hiki i kekahi ke haawi aku ia'u ia lakou. Ke hoopii nei au ia Kaisara.
12Kế đó, Phê-tu bàn tán với công hội mình, bèn trả lời rằng: Ngươi đã kêu nài Sê-sa, chắc sẽ đến nơi Sê-sa.
12Alaila, kamailio iho la o Peseto me ka poe ahaolelo, i aku la ia, Ua hoopii oe ia Kaisara, ea! ia Kaisara oe e hele ai.
13Cách đó mấy ngày, vua Aïc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến thành Sê-sa-rê đặng chào Phê-tu.
13A hala ae la kekahi mau la, hiki mai la i Kaisareia, o Ageripa, ke alii laua me Berenike e aloha mai ia Peseto.
14Vì hai người ở lại đó mấy ngày, nên Phê-tu đem vụ Phao-lô trình với vua, rằng: Đây có một tên tù mà Phê-lít đã để lại.
14A nui na la a laua i noho ai ilaila, hai aku la o Peseto i ua alii la i na mea a Paulo, i aku la, Ua waihopaaia mai nei kekahi kanaka e Pelika;
15Lúc tôi ở thành Giê-ru-sa-lem, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dân Giu-đa đến kiện người và xin tôi làm án người đi.
15I ka wa a'u ma Ierusalema, hai mai la na kahuna nui a me na lunakahiko o na Iudaio ia'u nona, koi mai la lakou e hoahewaia oia.
16Tôi đáp lại rằng người Rô-ma chẳng có lệ giải nộp một người nào mà bên bị cáo chưa đối nại với bên tiên cáo, và người đó chưa có cách thế để chống cãi lời kiện cáo mình.
16I aku la au ia lakou, Aole ia o ko Roma aoao, ke haawi aku i kekahi kanaka e make, me ka halawai maka ole o ka mea i hoopiiia, a me ka poe e hoopii mai, a aeia'ku ia e olelo mai nona iho ma na mea i hoopiiia mai nona.
17Họ bèn đến đây, thì vừa ngày sau, tôi ra ngồi nơi tòa án, không trễ nải mà truyền dẫn người ấy đến.
17A hiki mai la lakou ia nei, aole au i kali hou aku; ia la ae, noho au ma ka noho hookolokolo, a kena aku la e kaiia mai ua kanaka la.
18Các người tiên cáo đều đã có mặt, song không kiện nó về một tội gì như tôi đã dè chừng.
18A ku mai la ka poe hoopii ia ia, aole lakou i hoike mai i kekahi mea e like me ko'u manao mua:
19Chỉ cáo nó về đạo riêng của họ, và một tên Jêsus đã chết kia, mà Phao-lô quyết rằng còn sống.
19He mau ninau nae ko lakou no ko lakou hoomana ana, e hoopii mai ia ia, a no kekahi Iesu, ka mea i make, a ua hai mai o Paulo, ua ola.
20Trong sự cãi lẫy đó, tôi không biết theo bên nào, nên hỏi Phao-lô muốn đi đến thành Giê-ru-sa-lem, để chịu xử mọi điều ấy tại nơi đó chăng.
20A i ko'u kanalua ana no keia hoopaapaa ana, ninau aku la au, Ke makemake nei anei oe e hele i Ierusalema, a malaila e hookolokoloia'i, no keia mau mea?
21Nhưng nó đã kêu nài để việc kiện mình lại cho hoàng đế phân xử. Vậy tôi đã truyền giam nó trong ngục đợi tới khi tôi giải cho Sê-sa.
21A i ka Paulo hoopii ana e waihoia'i oia no ka hookolokolo mai o Auguseto, kauoha aku la au e malamaia oia, a hoouna aku au ia ia io Kaisara la.
22Aïc-ríp-ba bèn nói với Phê-tu rằng: Ta cũng muốn nghe người ấy. Phê-tu tâu rằng: Đến mai vua sẽ nghe.
22Alaila, i ae la o Ageripa ia Peseto, Owau no kekahi e hoolohe aku i na kanaka la. I mai la kela, Apopo e lohe oe ia ia,
23Vậy, qua bữa sau, vua Aïc-ríp-ba với Bê-rê-nít đến cách long trọng, vào phòng xử kiện với quan quản cơ và các người tôn trưởng trong thành. Phê tu bèn truyền lịnh điệu Phao-lô đến.
23A ia la ae, hiki mai la o Ageripa, laua me Berenike, me ka hanobano nui, a komo aku la i kahi hoolohe, me na lunatausani, a me na kanaka koikoi o ia kulanakauhale, alaila, kauoha aku o Peseto a kaiia mai o Paulo.
24Đoạn, Phê-tu rằng: Tâu vua Aïc-ríp-ba và hết thảy các ông có mặt tại đây, các ông đều thấy người nầy, vì cớ nó nên thay thảy dân chúng Giu-đa đến nài xin ơn tôi, tại thành Giê-ru-sa-lem và tôi đây cũng vậy, mà kêu lên rằng chẳng khá để cho nó sống nữa.
24A olelo ae la o Peseto, E ke alii, e Ageripa e, a me na kanaka a pau me kakou, Ke ike nei oukou i keia kanaka a ka poe Iudaio ma Ierusalema, a maanei no hoi i hoopii mai ai ia'u, a me ke kahea ana, aole ia e pono ke ola hou aku.
25Phần tôi, đã xét nó chẳng có làm điều gì đáng tội chết; và vì chính nó cũng đã kêu nài việc đó đến Sê-sa, nên tôi định giải nộp cho Sê-sa.
25A ike aku la au, aole ia i hana i ka mea e pono ai ka make, a nana iho i hoopii aku ia Auguseto, manao paa au e hoouna aku ia ia ilaila.
26Nhưng vì tôi không có điều chi quả quyết để làm sớ tâu hoàng đế về việc nó, nên đòi nó đến trước mặt các ông, nhất là trước mặt vua, là Aïc-ríp-ba, đặng khi tra hỏi rồi, tôi có điều để viết sớ.
26Aole a'u mea e palapala aku ai nona i ko'u haku. No ia mea, ua kai mai au ia ia imua o oukou nei, a imua no hoi ou, e ke alii, e Ageripa e, i loaa ia'u kekahi mea e palapala aku ai, mahope o keia hookolokolo ana.
27Vả, tôi nghĩ rằng giải một tên phạm mà chẳng nói rõ điều người ta kiện nó, thì là trái lẽ lắm.
27No ka mea, aole e pono i ko'u manao ke hoouna aku i ke kanaka paa, me ka hoike ole aku i ka hewa ana i hoopiiia mai ai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.