Sứ đồ 3
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Buổi cầu nguyện giờ thứ chín, Phi-e-rơ với Giăng cùng lên đền thờ.
1PII pu aku la o Petero a me Ioane i ka luakini i ka hora pule, i ka iwa.
2Vả, có một người què từ lúc sanh ra, cứ hằng ngày người ta đem đặt tại cửa đền, gọi là Cửa Đẹp, đặng ăn mày những người vào đền.
2A haliia'e la kekahi kanaka, ua oopa mai ka opu mai o kona makuwahine, a waiho no lakou ia ia i kela la i kela la, ma ka puka o ka luakini, i kipaia, He nani, e nonoi aku i ka poe komo, i manawalea.
3Người thấy Phi-e-rơ và Giăng vào, thì xin hai người bố thí.
3A ike ae la oia ia Petero, a me Ioane e komo ana iloko o ka luakini, noi aku la ia i manawalea.
4Phi-e-rơ với Giăng ngó chăm người, rồi nói rằng: Hãy nhìn xem chúng ta.
4Haka pono mai la o Petero, laua o Ioane ia ia, i mai la, E nana mai ia maua.
5Vậy, người bèn nhìn chăm chăm hai người, tưởng sẽ được chút gì.
5Nana aku k oia ia laua, me ka manao e loaa ia ia kekahi mea na laua mai.
6Nhưng Phi-e-rơ nói với người rằng: Ta chẳng có vàng bạc chi hết, song điều ta có thì ta cho ngươi: nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ ở Na-xa-rét, hãy bước đi!
6Alaila i mai la o Petero, Aole a'u kala, aole he gula; aka, o ka mea i loaa mai ia'u, o ka'u ia e haawi aku nau; Ma ka inoa o Iesu Kristo no Nazareta, e ku oe, a e hele.
7Phi-e-rơ nắm tay hữu người đỡ dậy. Tức thì bàn chân và mắt cá người trở nên cứng vững;
7Lalau ae la oia i kona lima akau, a hooku ae la ia ia; ikaika koke iho la na kapuwai, a me na puupuu wawae ona.
8người liền nhảy, đứng lên và bước đi cùng hai người vào đền thờ, vừa đi, vừa nhảy, vừa ngợi khen Đức Chúa Trời.
8Lele aku la ia, a ku iluna, a hele, a komo pu aku la me lakou iloko o ka luakini, me ka holoholo, a me ka lelele, a me ka hoomaikai aku i ke Akua.
9Cả dân chúng đều thấy người bước đi và ngợi khen Đức Chúa Trời.
9A ike aku la na kanaka a pau ia ia e hele ana, a e hoomaikai aku ana i ke Akua:
10Người ta nhận là chính người đó đã ngồi tại Cửa Đẹp đền thờ đặng xin bố thí; nên đều bỡ ngỡ và sững sờ về việc đã xảy đến cho người.
10A i ko lakou ike ana, oia no ka mea i noho ma ka puka nani o ka luakini, no ka manawaleaia mai; pilihua iho k lakou, me ke kahaha o ka naau, i ka mea i hanaia mai ia ia.
11Người ấy đang cầm tay Phi-e-rơ và Giăng, thì cả dân chúng lấy làm lạ, chạy đến cùng các người đó ở nơi hiên cửa gọi là Sa-lô-môn.
11Aka, paa aku la ka oopa i hoolaia ia Petero ma laua o Ioane, a holo mai la na kanaka a pau ma ka lanai i kapaia ko Solomona, me ke kahaha nui o ka naau.
12Phi-e-rơ thấy vậy, bèn nói với dân chúng rằng: Hỡi người Y-sơ-ra-ên, sao các ngươi lấy làm lạ về việc vừa xảy đến? Sao các ngươi ngó sững chúng ta, dường như chúng ta đã nhờ quyền phép hay là nhân đức riêng của mình mà khiến người nầy đi được vậy?
12A ike mai la o Petero, olelo mai la ia i ua poe kanaka la, E na i kanaka o ka Iseraela, no ke aha la i kahaba mai ai ko oukou naau i keia mea? No ke aha la oukou e haka pono mai ai ia maua me he mea la na maua no, i ko maua mana, a me ko maua hemolele iho, i hana aku ai ia ia e hele?
13Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã làm vinh hiển đầy tớ Ngài là Đức Chúa Jêsus, là Đấng mà các ngươi đã bắt nộp và chối bỏ trước mặt Phi-lát, trong khi người có ý tha Ngài ra.
13O ke Akua o Aberahama, a o Isaaka, a o Iakoba, o ke Akua o ko kakou poe kapuna, ua hoonani mai la ia i kana Keiki ia Iesu, i ka mea a oukou i kumakaia aku ai, a hoole aku ia ia imua i ke alo o Pilato, i ka wa i manao iho ai oia e hookuu ia ia.
14Các ngươi đã chối bỏ Đấng Thánh và Đấng Công bình mà xin tha một kẻ giết người cho mình;
14Ua hoole aku oukou i ka Mea Hoano a me ka Pono, a ua nouoi aku oukou e hookuuia ka mea pepehi kanaka na oukou;
15các ngươi đã giết Chúa của sự sống mà Đức Chúa Trời đã khiến từ kẻ chết sống lại, và chúng ta là người làm chứng về điều đó.
15Ua pepehi hoi oukou i ke Alii e ola'i, ka mea a ke Akua i hoala mai ai mai ka make mai; he poe ike maka no hoi makou ia mea.
16Aáy là bởi đức tin trong danh Ngài, nên danh Ngài làm cho vững người nầy là người các ngươi thấy và biết; nghĩa là đức tin bởi Ngài mà ra, đã ban cho người nầy sự mạnh khỏe trọn vẹn, tại trước mặt hết thảy các ngươi.
16Aka, o kona inoa iho, i ka manaoio ana i kona inoa, oia ka mea i hoola ai i ke kanaka a oukou e nana aku, a e ike nei: o ka manaoio ana ia ia, oia ka mea i haawi mai ai i ke ola io no ia nei imua i ke alo o oukou nei a pau.
17Hỡi anh em, bây giờ ta biết anh em và các quan của anh em, vì lòng ngu dốt nên đã làm điều đó.
17Ano hoi, e na hoahanau, ua ike no au, no ka naaupo i hana aku ai oukoa i keia, a pela no ko oukou poe alii.
18Nhưng Đức Chúa Trời đã dùng cách đó mà làm cho ứng nghiệm lời Ngài phán tiên tri bởi miệng các đấng tiên tri rằng Đấng Christ của Ngài phải chịu đau đớn.
18Aka, o na mea a ke Akua i hoike mua mai ai, ma ka waha o kona poe kaula a pau, e make ana ka Mesia, ua hooko mai ia pela.
19Vậy, các ngươi hãy ăn năn và trở lại, đặng cho tội lỗi mình được xóa đi,
19No ia mea e mihi oukou, a e huli mai, i pau ko oukou hewa i ka holoiia, i ka hiki ana mai o na mauawa hoomaha, mai ke alo mai o ka Haku:
20hầu cho kỳ thơ thái đến từ Chúa, và Chúa sai Đấng Christ đã định cho các ngươi, tức là Jêsus,
20A hoouna mai hoi oia ia Iesu Kristo, i ka mea i hai mua ia mai ia oukou.
21mà trời phải rước về cho đến kỳ muôn vật đổi mới, là kỳ mà Đức Chúa Trời thuở xưa đã phán trước bởi miệng các thánh tiên tri.
21He pono ke hookipa aku ka lani ia ia, a hiki aku i ka wa e hooponoponoia mai ai na mea a pau i oleloia mai e ke Akua, ma ka waha o na kaula hemolele ona, mai kinohi mai.
22Môi-se có nói rằng: Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ dấy lên trong anh em các ngươi một Đấng tiên tri như ta; các ngươi phải nghe theo mọi điều Ngài sẽ phán dặn.
22Ua hai mai o Mose, i ka poe kupuna, E hoopuka mai ana ka Haku, ko oukou Akua i Kaula e like me au, mailoko mai o ko oukou poe hoahanau; a e hoolohe oukoa ia ia ma na mea a pau ana e olelo mai ai ia oukou.
23Hễ ai không nghe Đấng tiên tri ấy sẽ bị truất khỏi dân sự.
23A he oiaio, o ka mea hoolohe ole i ua Kaula la, e okiia ia, mai kona poe kanaka aku.
24Hết thảy các tiên tri đã phán, từ Sa-mu-ên và các đấng nối theo người, cũng đều có rao truyền những ngày nầy nữa.
24A o na kaula a pau, mai ka wa mai o Samuela a me ka poe maho pe ona, o na mea olelo, ua hoike mai no lakou i keia mau la.
25Các ngươi là dòng dõi của các đấng tiên tri, và của giao ước Đức Chúa Trời đã lập với tổ phụ chúng ta, khi Ngài phán cùng Aùp-ra-ham rằng: Các dân thiên hạ sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước.
25O oukou no na keiki a ka poe kaula, a me ka berita a ke Akua i hana mai ai i ko kakou poe kupuna, me ka olelo ana mai ia Aberahama, E hoopomaikaiia'na ko na aina a pau o ka honua i kou hua.
26Đức Chúa Trời đã dấy Đầy tớ Ngài lên, rồi trước hết sai Người xuống ban phước cho các ngươi, mà dắt ai nấy trong bọn các ngươi xây lại khỏi tội ác mình.
26Ua hoala mai ke Akua i kana Keiki ia Iesu, a ua hoouna mai ia ia io oukou nei mua, e hoomaikai ia oukou i ka hoohuli aua ia oukou a pau, mai ko oukou hewa mai.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.