Sứ đồ 2
Vietnamese Bible (1923 translation)Translation
Vietnamese Bible (1923 translation)
Baibala Hemolele (Hawaiian Bible, 1868 revision)
1Đến ngày lễ Ngũ tuần, môn đồ nhóm họp tại một chỗ.
1A HIKI io mai la ka la Penetekota, ua akoakoa pu lakou a pau, me ka manao lokahi.
2Thình lình, có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào, đầy khắp nhà môn đồ ngồi.
2Emo ole, pae mai la ka leo, mai ka lani mai, me he makani nui ikaika la; a hoopiha loa iho la i ka hale a pau, kahi a lakou i noho at
3Các môn đồ thấy lưỡi rời rạc từng cái một, như lưỡi bằng lửa hiện ra, đậu trên mỗi người trong bọn mình.
3A ikeia'ku la e lakou na elelo manamana, me he ahi la, a kau mai la iluna iho o kela mea keia mea o lakou a pau.
4Hết thảy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, khởi sự nói các thứ tiếng khác, theo như Đức Thánh Linh cho mình nói.
4A piha ae la lakou a pau i ka Uhane Hemolele; a hoomaka lakou e olelo aku me na elelo e, e like me ka haawi ana mai o ka Uhane ia lakou e olelo aku.
5Vả, bấy giờ có người Giu-đa, kẻ mộ đạo, từ các dân thiên hạ đến, ở tại thành Giê-ru-sa-lem.
5E noho ana no ma Ierusalema na Iudaio, he poe kanaka haipule no na aina a pau malalo nei o ka lani.
6Lúc tiếng ấy vang ra, dân chúng chạy đến, ai nấy đều sững sờ vì mỗi người đều nghe các môn đồ nói tiếng xứ mình.
6A loheia'ku la keia leo, alaila, lulumi mai la ua ahakanaka la, a pilipu iho la lakou, no ka mea, lohe no kela kanaka keia kanaka i ka lakou olelo ana ma kana olelo iho.
7Chúng đều sợ hãi và lấy làm lạ mà rằng: Hết thảy người nói đó, há chẳng phải là người Ga-li-lê sao?
7Pilihua iho la lakou me ke kahaha o ka naau, i ae la kekahi i kekahi, Aia, aole anei no Galilaia lakou a pau e olelo mai nei?
8Vậy thì, sao chúng ta nghe ai nấy đều nói tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ?
8Pehea hoi keia lohe ana o kela mea keia mea o kakou i ka olelo o kona wahi i hanau ai?
9Nào người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-ba-đốc, Bông, A-si,
9O ko Paretia, a me ko Media, a me ko Elimai, a me ka pue i noho ma Mesopotamia, a ma Iudea, a ma Kapadosia, a ma Poneto, a ma Asia,
10Phi-ri-gi, Bam-phi-ly, Ê-díp-tô, đất Li-by gần Sy-ren, nào kẻ từ Rô-ma đến,
10A ma Perugia, a ma Pamepulia, a ma Aigupita, a ma na aina o Libua e kokoke ana i Kurene, a me na mea malihini o Roma mai, na Iudaio, a me na mea hoi i huli mai,
11cả người Giu-đa hoặc người mới theo đạo Giu-đa, người Cơ-rết và A rạp nữa, chúng ta đều nghe họ lấy tiếng chúng ta mà nói những sự cao trọng của Đức Chúa Trời.
11O ko Kerete a me ko Arabia, ke lohe nei kakou ia lakou e olelo mai la i na mea nui o ke Akua ma ka kakou olelo iho.
12Ai ai đều sợ hãi, không biết nghĩ làm sao, bèn nói với nhau rằng: Việc nầy là nghĩa làm sao?
12Kahaha iho la ko lakou naau a pau, a kanalua no hoi, i ae la kekahi i kekahi, Heaha la ke ano o keia mea?
13Nhưng có kẻ lại nhạo báng rằng: Họ say rượu mới đó.
13Hoowahawaha no hoi kekahi poe, i ae la, Ua piha keia poe i ka waina hou.
14Bấy giờ, Phi-e-rơ đứng ra cùng mười một sứ đồ, cất tiếng nói với dân chúng rằng: Hỡi người Giu-đa, và mọi người ở tại thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết rõ điều nầy, và lắng tai nghe lời ta.
14Alaihi ku ae la o Petero iluna me ka poe umikumamakahi, hookiekie mai la i kona leo, olelo iho la ia lakou, E na kanaka, na Indaio, a me na mea a pau e noho ana ma Ierusalema nei, e ike pono oukou i keia, a e hoolohe mai oukou i ka'u mau olelo:
15Những người nầy chẳng phải say như các ngươi ngờ đâu, vì bây giờ mới là giờ thứ ba ban ngày.
15No ka mea, Aole lakou nei i ona, e like me ka oukou e manao mai nei, no ka mea, o ke kolu keia o ka hora o ke ao.
16Nhưng ấy là điều đấng tiên tri Giô-ên đã nói tiên tri rằng:
16Aka, eia ka mea i oleloia, e ke kaula, e Ioela;
17Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; Con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, Bọn trai trẻ sẽ thấy điềm lạ, Và các người già cả sẽ có chiêm bao.
17I na la mahope, wahi a ke Akua, e ninini iho au i ko'u Uhane maluna o na kanaka a pau; a e wanana ae ka oukou poe keikikane, a me ka oukou mau kaikamahine, a e ike ko oukou poe kanaka hou i na hihio, a e moe no ko oukou poe elemakule i na moe uhane.
18Phải, trong những ngày đó, ta sẽ đổ Thần ta khắp trên các đầy tớ trai và gái ta, Chúng nó đều nói lời tiên tri;
18A i kela mau la, ninini aku no hoi au i ko'u Uhane maluna iho o ka'u poe kauwakane a me ka'u poe kauwawahine; a e wanana ae lakou.
19Ta lại sẽ tỏ ra sự lạ lùng ở trên trời, Và dấu lạ ở dưới đất; Tức là máu, lửa, và luồng khói;
19A e hoike no wau i na mea kupanaha ma ka lani maluna, a me na hoailona hoi ma ka honua malalo; he koko, a me ke ahi, a me ke ao uwahi.
20Mặt trời sẽ biến nên tối tăm, Mặt trăng hóa ra máu, Trước ngày lớn và vinh hiển của Chúa chưa đến;
20E lilo e no ka la i pouli, a me ka mahina hoi i koko, mamua o ka hiki ana o ua la nui kaulana la o ka Haku.
21Và lại ai cầu khẩn danh Chúa thì sẽ được cứu.
21Aka, eia kekahi, o ka mea e kahea aku i ka inoa o ka Haku, e ola ia.
22Hỡi người Y-sơ-ra-ên, hãy nghe lời nầy: Đức Chúa Jêsus ở Na-xa-rét, tức là Người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ ở giữa các ngươi, để làm chứng cho Người trong vòng các ngươi, như chính các ngươi đều biết.
22E na kanaka o ka Iseraela, e hoolohe mai oukou i keia mau olelo; O Iesu no Nazareta, he kanaka ia i heakakaia ia oukou e ke Akua, ma na hana mana, a me na mea kupanaha a ke Akua i hana mai ai ma o na la, iwaena o oukou, e like me ko oukou ike ana;
23Người đó bị nộp theo ý định trước và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi.
23Ua haawiia mai ia mamuli o ka manao kupaa a me ka ike mua o ke Akua, na oukou ia i hopu, a, me na lima hewa, i kau ai i ke kea a make ia.
24Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại, bứt đứt dây trói của sự chết, vì nó không thể giữ Người lại dưới quyền nó.
24Ua hoala hou mai ke Akua ia ia me ka wehe iho i na apo o ka make; no ka mea, he mea hiki ole i kela mea, e hoopaa ia ia.
25Bởi chưng vua Đa-vít có nói về Người rằng: Tôi từng thấy Chúa ở trước mặt tôi luôn, Vì Ngài ở bên hữu tôi, hầu cho tôi chẳng bị rúng động chút nào.
25No ka mea, i mai la o Davida nona, Ike maopopo aku la au i ka Haku, e ku mau loa ana mamua o'u; no ka mea, aia no ia ma ko'u lima akau, i ole au e naueue.
26Bởi cớ đó, lòng tôi vui vẻ, lưỡi tôi mừng rỡ, Và xác thịt tôi cũng sẽ yên nghỉ trong sự trông cậy;
26No ia mea, hauoli ko'u naau, a olioli hoi kuu elelo; a e moe malie no ko'u kino me ka manaolana:
27Vì Chúa sẽ chẳng để linh hồn tôi nơi Aâm phủ, Và chẳng cho Đấng Thánh của Ngài hư nát đâu.
27No ka mea, aole oe e waiho i kou Uhane ma ka malu o ka poe make, aole hoi e haawi mai i kou mea hoano, e ike i ka palaho.
28Chúa đã cho tôi biết đường sự sống; Cũng sẽ cho tôi đầy lòng vui mừng trước mặt Ngài.
28Ua hoike mai oe ia'u i ka aoao o ke ola; e hoopiha mai no hoi oe ia'u i ka olioli ma kou maka.
29Hỡi anh em, ta thật có thể nói cách vững vàng với anh em về tổ Đa-vít rằng người đã chết và chôn rồi, ngày nay mồ mả người còn ở giữa chúng ta.
29E na kanaka, na hoahanau, e hiki mai ia'u ke olelo huna ole aku ia oukou no Davida, ka makua'lii, ua make no ia, ua kanuia hoi, a ke waiho nei no kona halelua io kakou nei, a i keia manawa.
30Nhưng, vì người là đấng tiên tri, và biết Đức Chúa Trời đã thề hứa với người sẽ cho một hậu tự người ngồi trên ngai mình,
30No ka mea, he kauhi ia, a ike i ka hoohiki ana o ke Akua ana i hoohiki ai nona, no kekahi hua o kona pnhaka ma ko kino, e hoala mai ia Kristo e noho ma kona nohoalii;
31thì người đã thấy trước và nói trước về sự sống lại của Đấng Christ rằng: Ngài chẳng bị để nơi Aâm phủ, và xác thịt Ngài chẳng thấy sự hư nát.
31No kona ike mua ana i keia, hai mai la ia i ke alahouana mai o Iesu Kristo, penei, Aole kona Uhane i waihoia ma ka malu o ka poe make, aole hoi i ike kona kino i ka palaho.
32Đức Chúa Jêsus nầy, Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó.
32O ua Iesu la, oia ka ke Akua i hoala mai ai, he poe ike maka makou a pau ia mea.
33Vậy, sau khi Ngài đã được đem lên bên hữu Đức Chúa Trời, và từ nơi Cha đã nhận lấy Đức Thánh Linh mà Cha đã hứa ban cho, thì Ngài đổ Đức Thánh Linh ra, như các ngươi đang thấy và nghe.
33Ua hookiekieia'e la ia e ka lima akau o ke Akua, ua loaa no hoi ia ia, na ka Makua mai, ka olelo hoolana o kona haawi ana mai i ka Uhane Hemolele, no ia mea, ua haawi nui oia i keia mea a oukou e ike nei, a e lohe nei.
34Vì vua Đa-vít chẳng hề lên trời, nhưng chính người có nói: Chúa đã phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu ta,
34Aole i pii o Davida i ka lani; aka, nana no i i mai, Olelo mai la ka Haku i ko'u Haku hoi, E noho oe ma ko'u lima akau,
35Cho đến chừng nào ta để kẻ thù nghịch ngươi dưới chân ngươi, đặng làm bệ cho ngươi.
35A hoolilo ai au i kou poe enemi i keehana wawae nou.
36Vậy, cả nhà Y-sơ-ra-ên khá biết chắc rằng Đức Chúa Trời đã tôn Jêsus nầy, mà các ngươi đã đóng đinh trên thập tự giá, làm Chúa và Đấng Christ.
36No ia mea, e ike pono ka ohana a pau Iseraela, ua hoolilo ke Akua ia Iesu nei, i ka mea a oukou i kau ai ma ke kea, i Haku a i Mesia hoi.
37Chúng nghe bấy nhiêu lời, trong lòng cảm động, bèn hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng ta phải làm chi?
37A lohe lakou i keia, walama iho la ko lakou naau, i aka la ia Petero, a i na lunaolelo, E na kanaka, na hoahanau, heaha ka makou e hana'i?
38Phi-e-rơ trả lời rằng: Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Jêsus chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh.
38Alaila i mai la o Petero ia lakou, E mihi, a e bapetizoia oukou a pau iloko o ka inoa o Iesu Kristo, i kalaia mai na hala, a e loaa ia oukou ka haawina o ka Uhane Hemolele.
39Vì lời hứa thuộc về các ngươi, con cái các ngươi, và thuộc về hết thảy mọi người ở xa, tức là bao nhiêu người mà Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ gọi.
39No ka mea, no oukou ka olelo hoolana, a no ka oakou poe keiki, a no ka poe i kahi mamao aku, a no na mea a pau a ka Haku, a ko kakou Akua e hea mai ai.
40Phi-e-rơ lại lấy nhiều lời giảng nữa mà giục lòng và khuyên lơn chúng rằng: Các ngươi khá cứu mình thoát khỏi giữa dòng dõi gian tà nầy!
40A ma na olelo e ae he nui loa, hoike aku la oia, a nonoi aku hoi, i aku la, E hoola oukou ia oukou iho maiwaena mai o keia hanauna kolohe.
41Vậy, những kẻ nhận lời đó đều chịu phép báp-tem; và trong ngày ấy, có độ ba ngàn người thêm vào Hội thánh.
41Alaila, o ka poe ae maoli aku mamuli o kana olelo me ka olioli, bapetizoia iho la lakou, a ia la no, hui pu ia mai ekolu tausani kanaka.
42Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện.
42A hoomau lakou ma ka olelo a ka poe lunaolelo, a me ka launa pu, a me ka wawahi berena ana, a me ka pule.
43Mọi người đều kính sợ, vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ.
43Loohia iho la na kanaka a pau e ka makau; ua hanaia hoi na mea kupanaha e ka poe lunaolelo, a me na hoailona he nui loa.
44Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung.
44A o ka poe a pau i manaoio, noho pu lakou, a hui pu ia ka lakou mau mea a pau.
45Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người.
45A kuai aku la i ko lakou waiwai a me ka ukana, a puunaue aku la no kela mea keia mea, e like me kona hemahema.
46Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà,
46Hoomau lakou maloko o ka luakini, i kela la i keia la, me ka manao hookahi, a me ka wawahi berena ana i kela hale i keia hale, a ai iho la lakou i ka ai me ka olioli, a me ke akahai o ka naau,
47ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.
47Me ka hoomaikai aku i ke Akua, a me ke alohaia e na kana ka a pau. A hookomo hou mai la ka Haku i ka ekalesia, i kela la i keia la, i poe e hoolaia ana.
Tip: use the ← and → keys to turn chapters.